
Bà Võ Thị A được biết lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua bán người cung cấp là một trong những căn cứ để xác định nạn nhân của mua bán người. Bà muốn hỏi căn cứ đó có đúng theo quy định của pháp luật không?
Trả lời: (mang tính chất tham khảo)
Điều 32 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 quy định căn cứ để xác định nạn nhân, như sau:
1. Việc xác định nạn nhân căn cứ vào tài liệu, chứng cứ sau đây:
a) Tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp;
b) Thông tin, tài liệu do cơ quan giải cứu nạn nhân cung cấp;
c) Thông tin, tài liệu do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp;
d) Thông tin, tài liệu do cơ quan, tổ chức khác trong nước cung cấp;
đ) Tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cung cấp;
e) Lời khai, tài liệu do người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người thân thích của họ cung cấp;
g) Lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua bán người cung cấp;
h) Lời khai, tài liệu do nạn nhân khác hoặc những người biết sự việc cung cấp;
i) Tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác.
2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền căn cứ quy định tại khoản 1 nêu trên nhưng chưa chứng minh được một người có phải là nạn nhân hay không, sau khi xác minh lý lịch, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú, lý do vắng mặt phù hợp với lời khai của họ về việc bị mua bán thì xem xét các dấu hiệu sau đây để xác định họ là nạn nhân:
a) Người đó được phát hiện, giải cứu cùng với nạn nhân khác;
b) Người đó đã có thời gian chung sống cùng với nạn nhân tại nơi các đối tượng thực hiện hành vi mua bán người giam giữ, quản lý và bị đối xử như nạn nhân này;
c) Người đó có dấu hiệu bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, bị đối xử tàn tệ, bị thương tích, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm, ốm yếu theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền hoặc bị xâm hại bởi hành vi nhằm mục đích vô nhân đạo khác quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật Phòng, chống mua bán người;
d) Người thân thích trình báo về việc mất tích của họ trong thời gian họ vắng mặt tại nơi cư trú;
đ) Căn cứ hợp pháp khác có cơ sở để tin rằng người đó là nạn nhân.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên thì lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua bán người cung cấp là một trong những tài liệu, chứng cứ chứng minh nạn nhân của mua bán người.












