Hỏi: Chị Hoa đã từng thực hiện công chứng hợp đồng tại tổ chức hành nghề công chứng H. Hiện nay chị đang lao động ở nước ngoài, chị dự định tháng 9/2025 sẽ về Việt Nam để đề nghị tổ chức hành nghề công chứng cấp bản sao văn bản công chứng. Chị đề nghị cho biết, quy định pháp luật về cấp bản sao văn bản công chứng như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Chị Hoa dự định về nước và đề nghị cấp bản sao văn bản công chứng vào tháng 9/2025 là thời điểm áp dụng Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025). Điều 69 Luật Công chứng năm 2024 quy định về cấp bản sao văn bản công chứng như sau:
1. Việc cấp bản sao văn bản công chứng được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp có yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công chứng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã công chứng.
b) Theo yêu cầu của các bên tham gia giao dịch, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến giao dịch đã được công chứng.
Việc cấp bản sao văn bản công chứng theo yêu cầu của người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến giao dịch đã được công chứng phải được người yêu cầu công chứng đồng ý; trường hợp người yêu cầu công chứng là cá nhân đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết hoặc pháp nhân chấm dứt hoạt động thì phải được sự đồng ý của người thừa kế đối với cá nhân, sự đồng ý của cá nhân, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của pháp nhân đó.
2. Việc cấp bản sao văn bản công chứng do tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ bản gốc văn bản công chứng đó thực hiện.
3. Việc cấp bản sao văn bản công chứng đang được lưu trữ tại tổ chức hành nghề công chứng tạm ngừng hoạt động thì tổ chức hành nghề công chứng được Sở Tư pháp chỉ định tiếp nhận hồ sơ thực hiện.
Trên đây là quy định cấp bản sao văn bản công chứng, chị Hoa nghiên cứu, tham khảo thực hiện.
Hỏi: Chị Lan đề nghị cho biết theo Luật Công chứng năm 2024, trường hợp Công chứng viên từ chối tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng thi có bắt buộc phải trả lời bằng văn bản không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Khoản 2 Điều 42 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định: Công chứng viên kiểm tra các giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng, nếu hồ sơ đủ, phù hợp với quy định của pháp luật thì tiếp nhận giải quyết; trường hợp từ chối tiếp nhận thì trực tiếp giải thích rõ lý do hoặc trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do cho người yêu cầu công chứng.
Căn cứ quy định trên, trường hợp Công chứng viên từ chối tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng thì lựa chọn một trong hai cách: trực tiếp giải thích rõ lý do hoặc trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do cho người yêu cầu công chứng.
Hỏi: Chị Phương chuẩn bị hồ sơ làm thủ tục đề nghị công chứng giao dịch vào tháng 7/2025. Chị đề nghị cho biết, pháp luật có quy định giấy tờ xuất trình liên quan đến hồ sơ yêu cầu công chứng phải là bản chính không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Khoản 1 và khoản 7 Điều 42 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định:
1. Người yêu cầu công chứng nộp 01 bộ hồ sơ yêu cầu công chứng trực tuyến, trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính đến tổ chức hành nghề công chứng. Hồ sơ yêu cầu công chứng bao gồm các giấy tờ sau đây:
a) Dự thảo giao dịch;
b) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng, gồm: thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ khác để xác định nhân thân của người yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật;
c) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý tài sản hoặc giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp giao dịch liên quan đến tài sản đó;
d) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã khai thác được các thông tin quy định tại các điểm b, c và d khoản này trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật thì người yêu cầu công chứng không phải nộp các giấy tờ này nhưng phải nộp phí khai thác dữ liệu theo quy định của pháp luật để tổ chức hành nghề công chứng khai thác dữ liệu.
7. Người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo giao dịch thì ký vào từng trang của giao dịch và ký, ghi đủ họ, tên của cá nhân, đóng dấu của tổ chức (nếu có) vào trang cuối của giao dịch; trường hợp điểm chỉ thì thực hiện theo quy định tại Điều 50 của Luật này. Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này để đối chiếu trước khi ký vào lời chứng và từng trang của giao dịch; đối với các giấy tờ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này mà người yêu cầu công chứng không có bản chính tại thời điểm công chứng viên ký vào lời chứng thì có thể xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực.
Căn cứ quy định trên, người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản chính của các giấy tờ: giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng, gồm: thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ khác để xác định nhân thân của người yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật; giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý tài sản hoặc giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp giao dịch liên quan đến tài sản đó. Đối với giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch mà pháp luật quy định phải có thì có thể xuất trình bản chính hoặc bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực.
Hỏi: Anh Minh trú tại phường T, quận Thuận Hóa, thành phố Huế, hỏi: thủ tục chung công chứng giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng được quy định như thế nào trong Luật Công chứng năm 2024?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Theo quy định tại Điều 42, 43 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025), thủ tục chung về công chứng giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng như sau:
1. Người yêu cầu công chứng nộp 01 bộ hồ sơ và nêu nội dung, mục đích giao kết giao dịch. Hồ sơ yêu cầu công chứng bao gồm các giấy tờ sau đây:
b) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng, gồm: thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ khác để xác định nhân thân của người yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật;
c) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý tài sản hoặc giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp giao dịch liên quan đến tài sản đó;
d) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã khai thác được các thông tin quy định tại các điểm b, c và d khoản này trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật thì người yêu cầu công chứng không phải nộp các giấy tờ này nhưng phải nộp phí khai thác dữ liệu theo quy định của pháp luật để tổ chức hành nghề công chứng khai thác dữ liệu.
2. Công chứng viên kiểm tra các giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng, nếu hồ sơ đủ, phù hợp với quy định của pháp luật thì tiếp nhận giải quyết; trường hợp từ chối tiếp nhận thì trực tiếp giải thích rõ lý do hoặc trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do cho người yêu cầu công chứng.
3. Công chứng viên hướng dẫn, giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc tham gia giao dịch.
4. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc tham gia giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, bị cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của giao dịch chưa được mô tả cụ thể thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc công chứng viên tiến hành xác minh, yêu cầu giám định theo đề nghị của người yêu cầu công chứng; trường hợp người yêu cầu công chứng không làm rõ được và từ chối việc xác minh, yêu cầu giám định hoặc đã xác minh, giám định nhưng vẫn không làm rõ được thì công chứng viên từ chối công chứng.
5. Trường hợp nội dung, mục đích giao kết giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì công chứng viên soạn thảo giao dịch.
6. Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo giao dịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe theo đề nghị của người yêu cầu công chứng.
7. Người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo giao dịch thì ký vào từng trang của giao dịch và ký, ghi đủ họ, tên của cá nhân, đóng dấu của tổ chức (nếu có) vào trang cuối của giao dịch; trường hợp điểm chỉ thì thực hiện theo quy định. Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này để đối chiếu trước khi ký vào lời chứng và từng trang của giao dịch; đối với các giấy tờ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này mà người yêu cầu công chứng không có bản chính tại thời điểm công chứng viên ký vào lời chứng thì có thể xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực.
8. Tổ chức hành nghề công chứng ghi số văn bản công chứng, đóng dấu, giao bản gốc văn bản công chứng cho người yêu cầu công chứng, vào sổ công chứng và lưu trữ hồ sơ công chứng theo quy định và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trên đây là quy định thủ tục chung công chứng giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng được quy định tại Luật Công chứng năm 2024, anh Minh nghiên cứu, tham khảo để thực hiện.
Hỏi: Chị Loan cho biết, chị có quyền sử dụng đất đối với một thửa đất ở tinh A, nơi chị đang sinh sống. Chị dự định cuối năm 2025 sẽ chuyển đến sinh sống ở thành phố trực thuộc Trung ương H. Chị đề nghị cho biết, khi đến thành phố H chị có thể đến tổ chức hành nghề công chứng ở thành phố H để yêu cầu công chứng giao dịch chuyển quyền sử dụng đối với thửa đất ở tỉnh A không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 44 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định thẩm quyền công chứng giao dịch về bất động sản như sau:
Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng về bất động sản và công chứng việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ các giao dịch này theo quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định trên, chị không thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng ở thành phố H công chứng giao dịch chuyển quyền sử dụng đối với thửa đất ở tỉnh A.
Hỏi: Chị Thanh có hẹn với người bạn đang cư trú ở nước ngoài về việc thực hiện giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất. Người bạn này đã lên kế hoạch sẽ về Việt Nam vào tháng 9/2025. Chị Thanh đề nghị cho biết, thời hạn công chứng giao dịch là bao lâu?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 45 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định thời hạn công chứng như sau:
1. Thời hạn công chứng được tính từ ngày công chứng viên tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng hợp lệ được ghi nhận trong sổ yêu cầu công chứng đến ngày trả kết quả công chứng. Thời gian xác minh, giám định nội dung liên quan đến giao dịch, niêm yết việc tiếp nhận công chứng văn bản phân chia di sản không tính vào thời hạn công chứng.
2. Thời hạn công chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc. Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc do nguyên nhân từ phía người yêu cầu công chứng dẫn đến không bảo đảm thời hạn theo quy định tại khoản này thì người yêu cầu công chứng có quyền thỏa thuận bằng văn bản với tổ chức hành nghề công chứng về thời hạn công chứng.
Trên đây là thời hạn công chứng theo quy định tại Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025). Chị Thanh nghiên cứu, tham khảo để chuẩn bị cho việc thực hiện giao dịch trong tháng 9/2025 được đảm bảo.
Hỏi: Chị Bình hiện đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Chị dự định tháng 8/2025 sẽ về quê nhà tại thành phố Huế để giúp mẹ chị thực hiện thủ tục lập di chúc. Do mẹ chị đã già yếu, chị có thể đề nghị công chứng viên lập di chúc tại chỗ ở của mẹ chị được không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 639 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở:
1. Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc.
2. Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 636 của Bộ luật Dân sự.
Điều 46 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định địa điểm công chứng:
1. Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng thuộc các trường hợp sau đây:
a) Lập di chúc tại chỗ ở theo quy định của Bộ luật Dân sự;
b) Không thể đi lại được vì lý do sức khỏe; đang điều trị nội trú hoặc bị cách ly theo chỉ định của cơ sở y tế;
c) Đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
d) Có lý do chính đáng khác theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp mẹ chị lập di chúc vào tháng 8/2025, áp dụng Luật Công chứng năm 2024, mẹ chị được đề nghị công chứng viên lập di chúc tại chỗ ở.
Hỏi: Anh Dũng trú tại phường P, quận Thuận Hóa, thành phố Huế, hỏi: Theo quy định của Luật Công chứng năm 2024, chữ viết và cách ghi thời điểm trong văn bản công chứng như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 47 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định chữ viết và cách ghi thời điểm trong văn bản công chứng như sau:
1. Chữ viết trong văn bản công chứng phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, không được viết xen dòng, viết đè dòng, không được tẩy xóa, không được để trống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Thời điểm công chứng phải được ghi cụ thể ngày, tháng, năm; có thể ghi giờ, phút nếu người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc công chứng viên thấy cần thiết. Các con số thể hiện thời điểm công chứng phải được ghi cả bằng số và chữ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trên đây là quy định về chữ viết và cách ghi thời điểm trong văn bản công chứng tại Luật Công chứng năm 2024, anh Dũng nghiên cứu, tham khảo.
Hỏi: Anh Hùng trú tại phường Q, quận Phú Xuân, thành phố Huế, hỏi: Luật Công chứng năm 2024 quy định như thế nào về người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 49 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch như sau:
1. Người yêu cầu công chứng là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch mà mình thực hiện.
Người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó.
Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó.
2. Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được hoặc không nghe được hoặc không ký được và không điểm chỉ được hoặc trong trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng.
Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời hoặc do công chứng viên chỉ định nếu người yêu cầu công chứng không mời được; trường hợp công chứng viên không chỉ định được người làm chứng thì từ chối công chứng.
Người làm chứng phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp phải có người làm chứng theo quy định tại khoản này và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng.
Người làm chứng phải trực tiếp chứng kiến việc công chứng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc làm chứng của mình.
3. Trường hợp người yêu cầu công chứng không thông thạo tiếng Việt hoặc là người khuyết tật nhìn, người khuyết tật nghe, nói thì phải có người phiên dịch.
Người phiên dịch do người yêu cầu công chứng mời và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phiên dịch của mình.
Người phiên dịch phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thông thạo tiếng Việt và ngôn ngữ mà người yêu cầu công chứng sử dụng hoặc là người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, nói và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng.
Người phiên dịch phải dịch đủ, chính xác nội dung giao dịch, nội dung trao đổi của công chứng viên với người yêu cầu công chứng về quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch.
Trên đây là quy định về người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch theo Luật Công chứng năm 2024, anh Hùng nghiên cứu, tham khảo.
Hỏi: Chị Nga trú tại xã T, thị xã Phong Điền, thành phố Huế, hỏi: Theo Luật Công chứng năm 2024, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào từng trang của giao dịch trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Khoản 1, 2 Điều 50 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định:
1. Người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào từng trang của giao dịch trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và trường hợp người yêu cầu công chứng không ký được và không điểm chỉ được. Việc ký văn bản công chứng điện tử thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Việc ký văn bản công chứng trước sự chứng kiến của công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu trữ trong hồ sơ công chứng.
2. Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết giao dịch của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể ký trước vào văn bản giao dịch; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong văn bản giao dịch với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng.
Việc đăng ký chữ ký mẫu được thực hiện trực tiếp tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc bằng văn bản chính thức có chữ ký trực tiếp của người đăng ký và đóng dấu của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đó.
Căn cứ quy định trên, Luật Công chứng năm 2024 quy định người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào từng trang của giao dịch trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên, trừ trường hợp người có thẩm quyền giao kết giao dịch của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể ký trước vào văn bản giao dịch.
Hỏi: Chị Vân dự định đề nghị công chứng giao dịch mua bán trong tháng 7/2025. Chị đề nghị cho biết, trường hợp chị không ký được thì có được điểm chỉ thay thế không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Khoản 3 Điều 50 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định:
Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được. Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng vân tay của ngón trỏ phải; nếu không sử dụng được vân tay của ngón trỏ phải thì sử dụng vân tay của ngón trỏ trái; trường hợp không thể sử dụng vân tay của 02 ngón trỏ đó thì sử dụng vân tay của ngón khác và công chứng viên phải ghi rõ trong lời chứng việc người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng vân tay của ngón nào, của bàn tay nào để điểm chỉ.
Căn cứ quy định trên, trường hợp chị không ký được thì được điểm chỉ thay thế việc ký.
Hỏi: Chị Quỳnh hiện đang cư trú ở nước ngoài. Chị dự định tháng 8/2025 sẽ về Việt Nam để làm thủ tục công chứng một số giao dịch. Chị đề nghị cho biết, khi công chứng các giao dịch, chị có thể đề nghị các bên tham gia giao dịch vừa ký vừa điểm chỉ vào văn bản giao dịch được không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định:
Việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký trong những trường hợp sau đây:
a) Công chứng di chúc;
b) Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
c) Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Căn cứ quy định trên, việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký trong trường hợp theo đề nghị của người yêu cầu công chứng.
Hỏi: Anh Hoà cư trú tại xã H, huyện Phú Vang, hỏi: Luật Công chứng năm 2024 quy định việc đánh số trang, đóng dấu giáp lai trong văn bản công chứng như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 51 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định như sau:
1. Văn bản công chứng có từ 02 trang trở lên thì từng trang phải được đánh số thứ tự, bắt đầu từ số 1 tại trang thứ nhất của giao dịch và liên tục cho đến trang cuối cùng của lời chứng.
2. Văn bản công chứng có từ 02 tờ trở lên phải được đóng dấu giáp lai giữa các tờ.
3. Việc đánh số trang, xác nhận tính toàn vẹn của văn bản công chứng điện tử thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Trên đây là quy định về việc đánh số trang, đóng dấu giáp lai trong văn bản công chứng theo Luật Công chứng năm 2024, anh Hoà nghiên cứu, tham khảo.
Hỏi: Chị Nga đang lao động ở nước ngoài. Vừa qua, chị nhận được thông tin hợp đồng đã công chứng trước đây của chị có lỗi kỹ thuật cần sửa lại. Thời hạn lao động của chị đến tháng 11/2025, lúc đó chị về nước để xem xét thực hiện sửa lỗi kỹ thuật. Chị Nga đề nghị cho biét, việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng được thực hiện như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Chị Nga dự định về nước và thực hiện sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng vào tháng 11/2025, là thời điểm áp dụng Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025). Điều 52 Luật Công chứng năm 2024 quy định sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng như sau:
1. Lỗi kỹ thuật là lỗi do sai sót trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn văn bản công chứng mà việc sửa lỗi đó không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia giao dịch.
2. Việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng nơi đã thực hiện việc công chứng đó; trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng tạm ngừng hoạt động thì việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng do tổ chức hành nghề công chứng được Sở Tư pháp chỉ định tiếp nhận hồ sơ thực hiện.
3. Công chứng viên thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật có trách nhiệm đối chiếu từng lỗi cần sửa với các giấy tờ trong hồ sơ công chứng, gạch chân chỗ cần sửa, sau đó ghi chữ, dấu hoặc con số đã được sửa vào bên lề của trang được sửa lỗi kỹ thuật, ghi thời điểm sửa lỗi kỹ thuật kèm theo họ, tên, chữ ký của mình và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng; trường hợp khoảng trống bên lề không đủ chỗ để ghi nội dung sửa lỗi kỹ thuật thì có thể ghi vào trang đính kèm có đủ các nội dung nêu trên.
Công chứng viên có trách nhiệm sửa lỗi kỹ thuật đối với tất cả các bản gốc của văn bản công chứng, trừ trường hợp không thể thu hồi được tất cả các bản gốc. Việc sửa lỗi kỹ thuật phải được thông báo bằng văn bản cho những người tham gia giao dịch trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc sửa lỗi kỹ thuật.
4. Việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng điện tử thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Trên đây là quy định sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng, chị Nga nghiên cứu, tham khảo để thực hiện.
Hỏi: Anh Bang trú tại xã N, huyện Phú Lộc, thành phố Huế, hỏi: Luật Công chứng năm 2024 có quy định về việc chấm dứt giao dịch không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 53 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định công chứng việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ giao dịch như sau:
1. Việc công chứng văn bản sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận hoặc cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã ký kết hợp đồng đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Việc công chứng văn bản sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ văn bản là hành vi pháp lý đơn phương được thực hiện khi có yêu cầu của người đã ký kết văn bản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Trừ trường hợp quy định về di chúc tại khoản 4 Điều 58 của Luật Công chứng năm 2024, việc công chứng văn bản sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ giao dịch đã được công chứng do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng nơi đã thực hiện việc công chứng đó tiến hành; trường hợp tổ chức hành nghề công chứng nơi đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng tạm ngừng hoạt động thì việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ giao dịch đã được công chứng do tổ chức hành nghề công chứng được Sở Tư pháp chỉ định tiếp nhận hồ sơ thực hiện.
3. Thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng giao dịch quy định tại Chương này.
Như vậy, Luật Công chứng năm 2024 có quy định về chấm dứt giao dịch, anh Bang nghiên cứu, tham khảo quy định trên.
Hỏi: Chị Thu trú tại xã H, thị xã Hương Trà, thành phố Huế, hỏi: Luật Công chứng năm 2024 quy định những người nào có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 54 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu như sau:
Công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật.
Trên đây là quy định về những người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo Luật Công chứng năm 2024, chị Thu nghiên cứu, tham khảo.
Hỏi: Anh Sơn trú tại phường T, quận Thuận Hoá, thành phố Huế, hỏi: thẩm quyền công chứng thế chấp bất động sản theo Luật Công chứng năm 2024 như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 56 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản như sau:
1. Thẩm quyền công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 44 của Luật Công chứng năm 2024, cụ thể: Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng về bất động sản và công chứng việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ các giao dịch này theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp theo phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng lần đầu chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc công chứng hợp đồng thế chấp tiếp theo đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng lần đầu tạm ngừng hoạt động thì việc công chứng hợp đồng thế chấp tiếp theo tổ do chức hành nghề công chứng được Sở Tư pháp chỉ định tiếp nhận hồ sơ thực hiện.
Trên đây là quy định về thẩm quyền công chứng đồng thế chấp bất động sản theo Luật Công chứng năm 2024, anh Sơn nghiên cứu, tham khảo.
Hỏi: Anh Hà đã thoả thuận với khách hàng về việc ký kết một số giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất tại thành phố Huế vào tháng 7/2025. Anh Hà đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, do yêu cầu công việc anh không thể về quê nhà ở thành phô Huế để thực hiện các giao dịch. Anh Hà đề nghị cho biết, vào tháng 7/2025, anh có thể công chứng uỷ quyền cho người em đang ở thành phố Huế như thế nào trong trường hợp hai anh em không thể đến cùng một tổ chức hành nghề công chứng?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 57 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng như sau:
1. Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền được yêu cầu công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà mình lựa chọn chứng nhận việc đề nghị ủy quyền trong hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền được yêu cầu công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà mình lựa chọn chứng nhận tiếp vào bản gốc của hợp đồng ủy quyền đó để xác nhận việc chấp nhận ủy quyền, hoàn thành việc công chứng hợp đồng ủy quyền và gửi 01 bản gốc của văn bản công chứng đó cho tổ chức hành nghề công chứng mà bên ủy quyền đã công chứng để lưu hồ sơ công chứng.
Văn bản công chứng hợp đồng ủy quyền có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà bên ủy quyền và bên được ủy quyền yêu cầu công chứng ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng đó. Trường hợp là văn bản công chứng điện tử thì phải có chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của các tổ chức hành nghề công chứng đó.
2. Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 53 của Luật Công chứng năm 2024. Bên ủy quyền và bên được ủy quyền có thể thỏa thuận để bên ủy quyền yêu cầu công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng việc ủy quyền thực hiện công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền, sau đó gửi bản gốc văn bản sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền cho bên được ủy quyền để yêu cầu công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng việc nhận ủy quyền công chứng tiếp việc sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền và gửi 01 bản gốc của văn bản công chứng đó cho tổ chức hành nghề công chứng mà bên ủy quyền đã công chứng để lưu hồ sơ công chứng.
Trường hợp hai bên cùng yêu cầu công chứng tại một trong hai tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng trước đó thì tổ chức hành nghề công chứng này có trách nhiệm thông báo và gửi 01 bản sao của văn bản sửa đổi, bổ sung, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cho tổ chức hành nghề công chứng còn lại để lưu hồ sơ công chứng.
3. Việc sửa lỗi kỹ thuật của văn bản công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Công chứng viên thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 52 của Luật Công chứng năm 2024, thông báo về việc sửa lỗi kỹ thuật cho tổ chức hành nghề công chứng còn lại đã thực hiện việc công chứng trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc sửa lỗi kỹ thuật.
Trên đây là quy định về việc công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng theo Luật Công chứng năm 2024, anh Hà nghiên cứu, tham khảo để thực hiện.
Hỏi: Bà Vân trú tại phường P, quận Thuận Hoá, thành phố Huế dự định lập di chúc và đề nghị công chứng di chúc vào tháng 7/2025. Bà đề nghị cho biết, việc công chứng di chúc được quy định như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Bà Vân dự định công chứng di chúc vào tháng 7/2025 là thời điểm áp dụng Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025). Điều 58 Luật Công chứng năm 2024 quy định về công chứng di chúc như sau:
1. Người lập di chúc không được ủy quyền cho người khác mà phải tự mình ký hoặc ký và điểm chỉ vào bản di chúc được công chứng. Trường hợp người lập di chúc không ký được và không điểm chỉ được thì việc lập di chúc phải có người làm chứng theo quy định.
2. Trường hợp công chứng viên nhận thấy người lập di chúc có dấu hiệu bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì công chứng viên đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì công chứng viên từ chối công chứng di chúc đó.
3. Trường hợp tính mạng người lập di chúc bị cái chết đe dọa thì người lập di chúc không phải xuất trình đủ giấy tờ quy định nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng.
Sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc theo quy định tại khoản này mà người lập di chúc không còn trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng thì người lập di chúc phải nộp đủ giấy tờ quy định, nếu người lập di chúc không nộp đủ giấy tờ thì văn bản công chứng di chúc không có hiệu lực.
4. Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu công chứng viên của bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại 01 tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc đó.
Trên đây là quy định về việc công chứng di chúc theo Luật Công chứng năm 2024, Bà nghiên cứu, tham khảo để thực hiện.
Hỏi: Chị Mai trú tại phường Q, quận Phú Xuân, thành phố Huế, hỏi: Luật Công chứng năm 2024 quy định hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản gồm những giấy tờ gì?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Công chứng năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025), hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản có các giấy tờ sau đây:
a) Dự thảo giao dịch (nếu người yêu cầu công chứng tự soạn thảo);
b) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng, gồm: thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ khác để xác định nhân thân của người yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật;
c) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý tài sản hoặc giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp giao dịch liên quan đến tài sản đó;
d) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã khai thác được các thông tin quy định tại các điểm b, c và d nêu trên trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật thì người yêu cầu công chứng không phải nộp các giấy tờ này nhưng phải nộp phí khai thác dữ liệu theo quy định của pháp luật để tổ chức hành nghề công chứng khai thác dữ liệu.
đ) Giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác theo quy định của pháp luật chứng minh người để lại di sản đã chết;
e) Di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc; giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản trong trường hợp thừa kế theo pháp luật và trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự;
h) Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản trong trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu.
Trên đây là quy định về thành phần giấy tờ của hồ sơ đề nghị yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản theo Luật Công chứng năm 2024, chị Mai nghiên cứu, tham khảo thực hiện.
Cả tuần nay, không khí trong gia đình ông An lúc nào cũng rộn ràng, huyên náo. Hỏi ra mới biết gia đình ông chuẩn bị tổ chức đám cưới cho con trai. Việc cưới xin quan trọng, lại là con trai duy nhất của gia đình nên ông An lo lắng, sắp đặt mọi thứ rất kỹ lưỡng. Biết gia đình hàng xóm có chuyện vui nên bà Hoa – vốn là hàng xóm thân thiết cũng thường xuyên qua hỏi thăm, chia vui và giúp đỡ vợ chồng ông An một số việc trong nhà.
Anh Nguyễn Văn Kiên và chị Phạm Thuỳ Xuân kết hôn với nhau hơn 10 năm. Hai anh chị sống với nhau hạnh phúc và sinh được hai người con trai, con trai đầu tên Việt 14 tuổi, con trai thứ hai tên Nam 12 tuổi. Hai anh chị chăm chỉ làm ăn và dành dụm mua được ngôi nhà với diện tích 200m2 và chăm lo cho con cái học hành.
