1. Chị Thanh Liên (trú tại phường Kim Long, thành phố Huế) thắc mắc: Người đại diện của học sinh trường giáo dưỡng có quyền khiếu nại đối với hành vi của người có thẩm quyền trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không và trường hợp nào thì khiếu nại của người đại diện không được thụ lý giải quyết?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định người có quyền khiếu nại, thời hiệu khiếu nại gồm:
“1. Học sinh trường giáo dưỡng hoặc người đại diện của học sinh trường giáo dưỡng (sau đây gọi là người khiếu nại) có quyền khiếu nại đối với hành vi, quyết định của các cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của học sinh trường giáo dưỡng.
2. Thời hiệu khiếu nại lần đầu là 30 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng mà người khiếu nại cho rằng có vi phạm pháp luật. Thời hiệu khiếu nại lần hai là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.
Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.”
“1. Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
2. Người khiếu nại là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện của học sinh trường giáo dưỡng không có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, người đại diện của học sinh trường giáo dưỡng có quyền khiếu nại đối với hành vi của người có thẩm quyền trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Trường hợp người đại diện của học sinh trường giáo dưỡng không có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình thì khiếu nại không được thụ lý giải quyết.
2. Anh Văn Đức (trú tại phường Phú Xuân, thành phố Huế) cho biết, con trai anh vừa nhận được quyết định về việc hoãn chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, anh thắc mắc Quyết định này có thể bị khiếu nại hay không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định các quyết định, hành vi có thể bị khiếu nại gồm:
“1. Quyết định có thể bị khiếu nại là các quyết định của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Trường giáo dưỡng, Tòa án nhân dân có thẩm quyền được ban hành theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên liên quan đến thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, bao gồm:
a) Quyết định đưa người chưa thành niên vào trường giáo dưỡng;
b) Quyết định về việc hoãn chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
c) Quyết định về việc tạm đình chỉ chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
d) Quyết định hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
đ) Văn bản trả lời không chấp nhận chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
e) Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
g) Quyết định truy tìm người chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, học sinh trường giáo dưỡng;
h) Quyết định khen thưởng hoặc xử lý vi phạm đối với học sinh trường giáo dưỡng;
i) Các quyết định khác được ban hành theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
2. Hành vi có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng của người có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.”
Như vậy, theo quy định nêu trên, quyết định về việc hoãn chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là một trong các quyết định có thể bị khiếu nại.
3. Khi tìm hiểu các quy định về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, bà Hồ Xíu (trú tại xã A Lưới 3, thành phố Huế) muốn biết người khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm gì?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 8 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng như sau:
“1. Người khiếu nại được khiếu nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; rút khiếu nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình giải quyết khiếu nại; được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại và được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại phải trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó và chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.”
“1. Giải trình về quyết định, hành vi trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng bị khiếu nại, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu.
2. Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.
3. Bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
4. Người bị khiếu nại được thông báo về nội dung khiếu nại; đưa ra chứng cứ về tính hợp pháp của quyết định, hành vi thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng bị khiếu nại và được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.”
Như vậy, người khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm theo quy định nêu trên.
4. Ông Lê Mai (trú tại phường Hóa Châu, thành phố Huế) thắc mắc muốn biết: Việc tiếp nhận, phân loại, xử lý khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 11 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định về tiếp nhận, phân loại, xử lý khiếu nại như sau:
“1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết, người có thẩm quyền phải phân công đơn vị thuộc quyền kiểm tra về điều kiện thụ lý. Tùy từng trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý như sau:
a) Khiếu nại đủ điều kiện thụ lý thì phải thụ lý để giải quyết theo quy định của pháp luật và thông báo việc thụ lý bằng văn bản đến người khiếu nại;
b) Khiếu nại không đủ điều kiện thụ lý thì trả lại đơn và nêu rõ lý do không thụ lý;
c) Khiếu nại chưa đủ thông tin, tài liệu về điều kiện thụ lý thì yêu cầu người khiếu nại bổ sung để thụ lý;
d) Khiếu nại có nhiều nội dung và thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì hướng dẫn cho người khiếu nại viết thành đơn riêng.
2. Khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết, tùy từng trường hợp cơ quan, người tiếp nhận khiếu nại xử lý như sau:
a) Khiếu nại quyết định, hành vi trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì chuyển đơn đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết, đồng thời thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại;
b) Khiếu nại không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì hướng dẫn người khiếu nại gửi đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết, việc hướng dẫn chỉ thực hiện một lần. Trường hợp người khiếu nại gửi kèm giấy tờ, tài liệu là bản gốc thì phải trả lại giấy tờ, tài liệu đó cho người đã gửi đơn; nếu trả lại qua dịch vụ bưu chính thì phải gửi bảo đảm.
3. Trường hợp người khiếu nại trực tiếp đến khiếu nại và không thể tự viết đơn thì cơ quan, người tiếp nhận khiếu nại phải lập biên bản và gửi đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.”
Như vậy, việc tiếp nhận, phân loại, xử lý khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định nêu trên.
5. Chị Thu Hằng (trú tại phường An Cựu, thành phố Huế) muốn biết pháp luật quy định như thế nào về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 12 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết khiếu nại như sau:
“1. Đối với các khiếu nại thuộc thẩm quyền và đủ điều kiện thụ lý, trong thời hạn giải quyết khiếu nại, cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (sau đây gọi chung là người giải quyết khiếu nại) phải thụ lý và thực hiện các thủ tục như sau:
a) Kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định, hành vi của người bị khiếu nại, quyết định giải quyết khiếu nại bị khiếu nại.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra, nếu thấy đủ căn cứ giải quyết và không cần phải xác minh nội dung khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay.
Trường hợp cần phải xác minh nội dung khiếu nại, người giải quyết khiếu nại tự mình xác minh hoặc phân công người tiến hành xác minh nội dung khiếu nại;
b) Trong quá trình xác minh, người được phân công giải quyết có thể đề nghị người khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung khiếu nại. Trường hợp kết quả xác minh nội dung khiếu nại và yêu cầu của người khiếu nại còn khác nhau, nếu thấy cần thiết thì người giải quyết khiếu nại tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại;
c) Khi thời hạn xác minh nội dung khiếu nại đã hết, nhưng nội dung xác minh chưa thực hiện xong thì người được phân công giải quyết khiếu nại báo cáo người giải quyết khiếu nại xem xét, quyết định gia hạn thời hạn xác minh. Thời hạn gia hạn xác minh không vượt quá thời hạn giải quyết khiếu nại;
d) Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra;
đ) Kết thúc việc xác minh, người được phân công xác minh phải có văn bản báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại và đề xuất hướng giải quyết;
e) Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại rút khiếu nại thì ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại.
2. Việc giải quyết khiếu nại phải được lập hồ sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu nại bao gồm: Đơn khiếu nại hoặc văn bản ghi nội dung khiếu nại; văn bản giải trình của người bị khiếu nại; tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp; biên bản kiểm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định (nếu có); biên bản làm việc, biên bản tổ chức đối thoại (nếu có); quyết định giải quyết khiếu nại; quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số bút lục theo thứ tự tài liệu và lưu trữ theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định nêu trên.
6. Anh Quốc Vũ (trú tại xã Quảng Điền, thành phố Huế) thắc mắc muốn biết pháp luật quy định như thế nào về trình tự, thủ tục giải quyết và nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 15 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng:
“1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu có liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.
2. Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại có quyền yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại khi cần thiết; xác minh, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được yêu cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành.”
“1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.
5. Kết quả đối thoại (nếu có).
6. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.
7. Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người giải quyết khiếu nại lần đầu.
8. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.”
Như vậy, trình tự, thủ tục giải quyết và nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định nêu trên.
7. Chị Diệu Hà (trú tại phường Thủy Xuân, thành phố Huế) hỏi: Cơ quan, người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm gì khi thực hiện giải quyết khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 17 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định về trách nhiệm của cơ quan, người giải quyết khiếu nại như sau:
“1. Cơ quan, người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận khiếu nại, ghi chép đầy đủ nội dung khiếu nại vào sổ thụ lý hoặc sổ theo dõi, giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật và gửi quyết định giải quyết khiếu nại hoặc quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại; báo cáo hoặc thông báo kết quả giải quyết khiếu nại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chuyển đơn đến.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý (trong trường hợp thụ lý), ban hành quyết định giải quyết khiếu nại hoặc quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Trường giáo dưỡng, Tòa án phải gửi văn bản thông báo thụ lý, quyết định giải quyết khiếu nại hoặc quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại (nếu có) cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 2 Điều 113 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan, cá nhân có quyết định, hành vi, quyết định giải quyết khiếu nại bị khiếu nại có trách nhiệm giải trình bằng văn bản, cung cấp hồ sơ, thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại theo yêu cầu của người giải quyết khiếu nại.
Việc giải trình, cung cấp hồ sơ, thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến khiếu nại, giải quyết khiếu nại được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu.
4. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.”
Như vậy, khi giải quyết khiếu nại trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, cơ quan, người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thực hiện theo các quy định đã nêu trên.
8. Bà Minh Thư (trú tại xã Phong Quảng, thành phố Huế) thẩm quyền giải quyết tố cáo và kiểm sát việc giải quyết tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 20 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo và kiểm sát việc giải quyết tố cáo như sau:
1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo của lực lượng Công an nhân dân được thực hiện như sau:
a) Hiệu trưởng Trường giáo dưỡng, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc thẩm quyền quản lý;
b) Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Hiệu trưởng Trường giáo dưỡng và hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc thẩm quyền quản lý; Giám đốc Công an cấp tỉnh giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
c) Bộ trưởng Bộ Công an giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an.
2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo của Tòa án thực hiện như sau:
a) Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên Tòa án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực thuộc quyền quản lý;
b) Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực; Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật Chánh án Tòa án quân sự khu vực;
c) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự Trung ương giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu.
3. Viện kiểm sát các cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc thẩm quyền quản lý và kiểm sát việc giải quyết tố cáo của Tòa án, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 113 Luật Tư pháp người chưa thành niên và thực hiện tương tự khoản 6, khoản 7 Điều 7 Thông tư liên tịch này.”
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tố cáo và kiểm sát việc giải quyết tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định nêu trên.
9. Bà Bảo Ngọc (trú tại xã Phú Vinh, thành phố Huế) muốn hỏi: Đơn tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng mà không rõ họ tên, địa chỉ có được xem xét, giải quyết không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 22 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định tiếp nhận, phân loại, xử lý tố cáo như sau:
“Khi nhận được tố cáo, cơ quan, người có thẩm quyền tiếp nhận tố cáo xem xét, phân loại, xử lý như sau:
1. Đối với tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 07 ngày kể từ khi tiếp nhận tố cáo, người có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh về họ tên, địa chỉ của người tố cáo và các nội dung khác theo quy định của pháp luật về tố cáo. Trường hợp người tố cáo trực tiếp đến tố cáo thì phải yêu cầu người tố cáo nêu rõ họ tên, địa chỉ, xuất trình giấy tờ tùy thân.
Tố cáo đủ điều kiện thụ lý thì cơ quan, người có thẩm quyền thụ lý để giải quyết, thông báo việc thụ lý bằng văn bản cho người tố cáo nếu có yêu cầu. Tố cáo không đủ điều kiện thụ lý thì thông báo bằng văn bản cho người tố cáo về việc không thụ lý giải quyết tố cáo.
2. Tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển đơn hoặc biên bản ghi nội dung tố cáo, các tài liệu, chứng cứ liên quan cho cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo nếu có yêu cầu.
3. Không xem xét, giải quyết đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ, hoặc sử dụng họ tên của người khác; hoặc nội dung tố cáo đã được cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết mà người tố cáo không đưa ra được chứng cứ mới. Nếu thông tin tố cáo không rõ tên người tố cáo nhưng cung cấp tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận đơn tiến hành thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để tiến hành thanh tra, kiểm tra phục vụ công tác quản lý.
4. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật ngoài hoạt động thi hành biện pháp giáo dục tại Trường giáo dưỡng thì xử lý theo quy định của Luật Tố cáo và pháp luật có liên quan.”
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, không xem xét, giải quyết đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ.
10. Ông Hữu Vinh (trú tại xã Phú Hồ, thành phố Huế) muốn biết trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 23 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 3 năm 2026 quy định chi tiết Điều 114 Luật Tư pháp người chưa thành niên về khiếu nại, tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, quy định về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết tố cáo như sau:
1. Đối với tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết và đủ điều kiện thụ lý, trong thời hạn giải quyết tố cáo theo quy định tại Điều 21 Thông tư liên tịch này, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo thực hiện các thủ tục sau:
a) Ban hành quyết định xác minh nội dung tố cáo. Trường hợp người giải quyết tố cáo không trực tiếp tiến hành xác minh thì ra quyết định phân công người tiến hành xác minh nội dung tố cáo;
b) Làm việc với người tố cáo, yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung tố cáo. Trường hợp không làm việc trực tiếp với người tố cáo vì lý do khách quan thì có văn bản yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng để làm rõ nội dung tố cáo;
c) Làm việc với người bị tố cáo, yêu cầu giải trình về những nội dung bị tố cáo và cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung bị tố cáo. Trong trường hợp giải trình của người bị tố cáo chưa rõ, thông tin, tài liệu, chứng cứ do người bị tố cáo cung cấp chưa đầy đủ thì yêu cầu người bị tố cáo tiếp tục giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ về các vấn đề còn chưa rõ;
d) Ban hành văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo. Trong trường hợp cần thiết, người xác minh trực tiếp làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo;
đ) Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân;
e) Khi thời hạn xác minh nội dung tố cáo đã hết, nhưng nội dung xác minh chưa thực hiện xong thì người giải quyết tố cáo xem xét gia hạn thời hạn xác minh. Thời hạn gia hạn xác minh không vượt quá thời hạn giải quyết tố cáo;
g) Kết thúc xác minh, người được phân công xác minh phải có văn bản báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo và đề xuất hướng giải quyết;
h) Ban hành quyết định giải quyết tố cáo.
2. Việc giải quyết tố cáo phải được lập hồ sơ. Hồ sơ giải quyết tố cáo bao gồm: Đơn tố cáo hoặc biên bản ghi nội dung tố cáo (nếu có); văn bản thông báo việc thụ lý tố cáo; quyết định phân công xác minh, kế hoạch xác minh nội dung tố cáo; văn bản giải trình về hành vi bị tố cáo; biên bản làm việc với người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; thông tin, tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; kết quả giám định (nếu có); báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo; quyết định giải quyết tố cáo; các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số bút lục theo thứ tự tài liệu và lưu trữ theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định nêu trên.
11. Ông Văn Trung (trú tại phường Dương Nổ, thành phố Huế) muốn biết pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
“1. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận đơn tố cáo, lập biên bản ghi nội dung tố cáo khi người tố cáo trực tiếp đến trình bày việc tố cáo (trường hợp cần thiết có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh); ghi chép đầy đủ nội dung tố cáo vào sổ thụ lý hoặc sổ theo dõi, giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật; thông báo việc thụ lý, gửi quyết định giải quyết tố cáo cho người tố cáo, người bị tố cáo; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho cơ quan quản lý người bị tố cáo; báo cáo hoặc thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chuyển đơn đến.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý hoặc ban hành quyết định giải quyết tố cáo, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Trường giáo dưỡng, Tòa án phải gửi văn bản thông báo thụ lý hoặc quyết định giải quyết tố cáo cho Viện kiểm sát cùng cấp để tiến hành kiểm sát việc giải quyết tố cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 113 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung tố cáo có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ, vật chứng (nếu có) và báo cáo bằng văn bản về nội dung liên quan đến hành vi bị tố cáo theo yêu cầu của người giải quyết tố cáo trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu.
4. Người giải quyết tố cáo, người được phân công xác minh nội dung tố cáo phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo theo yêu cầu của họ; kịp thời yêu cầu cơ quan chức năng bảo vệ người tố cáo trong trường hợp họ bị đe dọa, trả thù, trù dập.
5. Trong quá trình giải quyết tố cáo, nếu phát hiện thấy hành vi thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có vi phạm pháp luật thì người giải quyết tố cáo phải áp dụng biện pháp để ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cho đến khi có kết quả giải quyết tố cáo; nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển đơn tố cáo hoặc biên bản ghi nội dung tố cáo và tài liệu, chứng cứ liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Trường hợp người bị tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý. Nếu xác định tố cáo là sai sự thật thì phải khôi phục hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra; đồng thời, kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật.”
Như vậy, cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có trách nhiệm thực hiện theo quy định nêu trên.
12. Bà Minh Tâm (trú tại xã Đan Điền, thành phố Huế) hỏi: Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về thẩm quyền xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 2 Thông tư 14/2025/TT-TANDTC ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng, quy định thẩm quyền xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại như sau:
“1. Tòa Gia đình và người chưa thành niên có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người chưa thành niên là bị hại bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý, luôn ở trạng thái hoảng loạn, sợ hãi, suy nhược về tinh thần và thể chất, rối loạn tâm thần và hành vi do tác động của hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra;
b) Người chưa thành niên là bị hại cần hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh, có hoàn cảnh không bình thường (ví dụ: mồ côi, hay bị bạo hành, có cha mẹ nghiện rượu, ma túy, phạm tội) dẫn đến bị thiếu thốn về vật chất, tinh thần, bỏ học hoặc không được đi học như những người chưa thành niên khác.
2. Tòa Gia đình và người chưa thành niên đã thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều này tiếp tục giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết bị hại đã đủ 18 tuổi trở lên.
3. Tòa Hình sự có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự khi người chưa thành niên là bị hại không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị cáo.”
Như vậy, thẩm quyền xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại được thực hiện theo quy định nêu trên.
13. Bà Minh Tâm (trú tại xã Đan Điền, thành phố Huế) thắc mắc: Người chưa thành niên là bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hay không?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 5 Thông tư 14/2025/TT-TANDTC ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng, quy định việc tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại như sau:
“1. Người chưa thành niên là bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền nhờ những người sau đây bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên:
a) Luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Người khác đã thành niên.
2. Tòa án phải thông báo cho người chưa thành niên là bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ về quyền nhờ những người quy định tại khoản 1 Điều này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên. Trường hợp họ không lựa chọn được người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại nhưng có văn bản đề nghị thì Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư hoặc trung tâm trợ giúp pháp lý cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên là bị hại.
3. Tòa án phải thông báo trước, trong thời gian hợp lý cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên là bị hại về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên và Bộ luật Tố tụng hình sự.
Việc thông báo phải bằng văn bản, trong trường hợp cần thiết có thể thông báo trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản.”
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, người chưa thành niên là bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên.
14. Anh Hồ Trọng (trú tại xã A Lưới 3, thành phố Huế) muốn biết pháp luật hiện hành quy định như thế nào về xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại?
Trả lời (mang tính chất tham khảo):
Điều 7 Thông tư 14/2025/TT-TANDTC ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng, quy định xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại như sau:
“1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể xét xử trực tuyến vụ án có người chưa thành niên là bị hại. Việc tổ chức phiên tòa trực tuyến được thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức phiên tòa trực tuyến.
2. Vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại được tổ chức xét xử tại Phòng xử án hình sự, trừ trường hợp vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị cáo.
3. Vụ án hình sự có người chưa thành niên là bị hại bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì Tòa án phải xét xử kín; đối với những vụ án khác có yêu cầu của người chưa thành niên là bị hại, người đại diện hợp pháp của họ hoặc để giữ bí mật đời tư, bảo vệ người chưa thành niên thì Tòa án cũng có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp người chưa thành niên tham gia phiên tòa tại Tòa án hoặc phiên tòa trực tuyến tại cùng điểm cầu với bị cáo thì Tòa án bố trí họ ngồi ở phòng cách ly hoặc khu vực ngăn cách với bị cáo và bảo đảm họ theo dõi đầy đủ diễn biến phiên tòa để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
Người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên là bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người làm công tác xã hội, chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học (nếu có) có mặt ở phòng cách ly hoặc khu vực ngăn cách để hỗ trợ người chưa thành niên là bị hại.
5. Khi xét hỏi người chưa thành niên là bị hại, phải có thái độ thân thiện, nhẹ nhàng, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành của người chưa thành niên. Thẩm phán phải tạm dừng ngay việc xét hỏi người chưa thành niên khi họ mệt mỏi, căng thẳng và cần điều chỉnh phiên tòa phù hợp với mức độ tập trung của người chưa thành niên, có thời gian nghỉ khi cần thiết.”
Như vậy, việc xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên được thực hiện theo các quy định nêu trên.
