Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về chứng thực đã khẳng định giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính, chữ ký được chứng thực và hợp đồng, giao dịch được chứng thựcGiá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính, chữ ký được chứng thực và hợp đồng, giao dịch được chứng thực; đồng thời quy định giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản đã được chứng thực không đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề liên quan chưa được quy định, gây khó khăn, lúng túng trong áp dụng pháp luật, trong đó có trường hợp văn bản do công chứng viên chứng thực.
Theo quy định, tài sản thi hành án dân sự có trường hợp bắt buộc phải áp dụng hình thức bán đấu giá tài sản. Việc đấu giá tài sản phải thực hiện theo trình tự, thủ tục của Luật Đấu giá tài sản. Bài viết phân tích quy trình đấu giá tài sản theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và Luật Thi hành án dân sự để làm rõ các nội dung liên quan giữa hai Luật này trong đấu giá tài sản.
Theo quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (viết tắt là Luật Thi hành án dân sự) thì kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án. Đối với tài sản đã kê biên thì được bán theo các hình thức: Bán đấu giá và bán không qua thủ tục đấu giá. Trong đó, tài sản bán không qua thủ tục đấu giá do chấp hành viên thực hiện đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng. Như vậy, với tài sản còn lại phải bán qua thủ tục đấu giá. Quy định này tương thích với điểm đ khoản 1 Điều 4 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 là tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự phải bán thông qua đấu giá.
Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (viết tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính) và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP của Chính phủ thì tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Tổ chức là pháp nhân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật, trong đó bao gồm chi nhánh, văn phòng đại điện. Tuy nhiên, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với chi nhánh, văn phòng đại điện còn một số vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn.
Thời gian qua, một số vụ việc phát sinh trên thực tế liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện trong lĩnh vực luật sư, đấu giá. Tuy nhiên, việc xem xét, giải quyết vẫn còn những vướng mắc, bất cập do cách hiểu liên quan đến thẩm quyền quản lý, xử phạt vi phạm hành chính đối với chi nhánh, văn phòng đại điện chưa đầy đủ, rõ ràng. Bài viết phân tích về vấn đề liên quan đến chi nhánh, văn phòng đại diện và thẩm quyền quản lý, xử lý vi phạm hành chính của cơ quan quản lý nhà nước nơi có trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện.
Việc đăng ký thành lập hoạt động chi nhành và thành lập văn phòng giao dịch của các tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện thường xuyên, phổ biến nhằm đáp ứng yêu cầu giao dịch, thực hiện các dịch vụ của tổ chức hành nghề luật sư. Tuy nhiên, từ các quy định hiện hành dẫn đến những lúng túng, khó khăn cho công tác quản lý nhà nước trong giai đoạn đăng ký hoạt động chi nhánh và thành lập văn phòng giao dịch cần được nghiên cứu, khắc phục.
Theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (sau đây viết tắt là Luật Luật sư) và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong thời gian từ khi được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư đến khi luật sư hành nghề, có những khoảng thời gian “trống”, thiếu sự quản lý, nắm bắt thông tin liên quan để đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước
