Sau khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành, quyết định này cần được thi hành nghiêm túc, đảm bảo thời hạn và quy định pháp luật.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước, vì vậy nhằm đảm bảo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng tạo khung pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động của các doanh nghiệp. Cùng với đó, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cũng được Nhà nước quan tâm nhằm định hướng, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, giúp doanh nghiệp hoạt động và phát triển dựa trên một nền tảng pháp lý ổn định, bền vững và lâu dài.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đỏi bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) thì: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Theo đó, người bị xử phạt vi phạm hành chính là “cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính”. Vấn đề đặt ra, trong trường hợp có hành vi vi phạm hành chính nhưng người thực hiện hành vi vi phạm đã chết hoặc tổ chức đã phá sản, giải thể (không còn tồn tại) thì có lập biên bản vi phạm hành chính không?
Ngoài quy định về giám định tư pháp theo Luật Giám định tư pháp năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (sau đây viết tắt là Luật Giám định tư pháp), giám định còn được quy định tại các Luật điều chỉnh các lĩnh vực khác.
Ngay sau khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 14/2013/CT-UBND ngày 25/4/2013 chỉ đạo triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp và các sở, ngành có liên quan đã triển khai các nhiệm vụ được phân công. Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành các văn bản: Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND ngày 22/02/2017 quy định chế độ, chính sách thu hút chuyên gia, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp; Quyết định số 40/2021/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (thay thế Quyết định số 61/2013/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2013); Kế hoạch số 279/KH-UBND ngày 25/12/2020 và Công văn số 3226/UBND-TĐKT ngày 20/4/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp năm 2020.
Dự thảo Luật Công chứng sửa đổi được Bộ Tư pháp tiếp tục lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương, đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật. Nhìn chung, dự thảo có nhiều điểm được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ, như:
Trước nhu cầu giám định trong một số lĩnh vực chuyên môn thuộc ngành tư pháp, nhất là về đấu giá tài sản, xử phạt vi phạm hành chính, chứng thực, thi hành án dân sự... bắt đầu phát sinh và có xu hướng ngày càng tăng trong giải quyết các vụ án về tham nhũng, kinh tế, Bộ Tư pháp đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp. Dự thảo Thông tư quy định về phạm vi các việc giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp; quy chuẩn chuyên môn áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp; thời hạn giám định tư pháp; giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; quy trình giám định, tiếp nhận, thực hiện giám định tư pháp; hồ sơ, lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp.
