
Ngày 13 tháng 6 năm 2019, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Quản lý thuế. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020. Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, đối với các khoản thuế được miễn, giảm, không thu, xóa nợ phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2020 thì tiếp tục xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13. Đối với các khoản tiền thuế nợ đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2020 thì được xử lý theo quy định của Luật này.
Luật Quản lý thuế năm 2019 gồm 17 chương với 152 điều luật quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước. So với các văn bản luật trước đây, Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định cụ thể, chi tiết và bổ sung thêm nhiều quy định mới. Tuy nhiên, nổi bật và quan trọng nhất là những quy định về việc áp dụng hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử. Theo đó, các quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử (quy định tại Chương X) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022, tuy nhiên, Luật Quản lý thuế 2019 cũng khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này trước ngày 01 tháng 7 năm 2022. So với hóa đơn thông thường, hóa đơn điện tử thể hiện được nhiều ưu điểm hơn. Việc sử dụng hóa đơn điện tử giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí vận chuyển, bảo quản hóa đơn, tiết kiệm thời gian và giảm thiểu các thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, hóa đơn điện tử được quản lý và bảo mật trên hệ thống phần mềm điện tử nên có thể tránh được rủi ro trong bảo quản, cũng như hạn chế được tình trạng sử dụng hóa đơn giả.
Ngoài ra, Luật Quản lý thuế 2019 cũng bổ sung thêm một số quyền của người nộp thuế như: Được nhận văn bản liên quan đến nghĩa vụ thuế của các cơ quan chức năng khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; Được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số tiền thuế không được hoàn và căn cứ pháp lý đối với số tiền thuế không được hoàn; Không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do người nộp thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn và quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; Được tra cứu, xem, in toàn bộ chứng từ điện tử mà mình đã gửi đến cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật này và pháp luật về giao dịch điện tử; Được sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch với cơ quan quản lý thuế và cơ quan, tổ chức có liên quan. Đồng thời bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quản lý thuế, bao gồm: Thông đồng, móc nối, bao che giữa người nộp thuế và công chức quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế để chuyển giá, trốn thuế; Gây phiền hà, sách nhiễu đối với người nộp thuế; Lợi dụng để chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép tiền thuế; Cố tình không kê khai hoặc kê khai thuế không đầy đủ, kịp thời, chính xác về số tiền thuế phải nộp; Cản trở công chức quản lý thuế thi hành công vụ; Sử dụng mã số thuế của người nộp thuế khác để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc cho người khác sử dụng mã số thuế của mình không đúng quy định của pháp luật; Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không xuất hóa đơn theo quy định của pháp luật, sử dụng hóa đơn không hợp pháp và sử dụng không hợp pháp hóa đơn; Làm sai lệch, sử dụng sai mục đích, truy cập trái phép, phá hủy hệ thống thông tin người nộp thuế.












