
Ngày 27/12/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định 168/2016/NĐ-CP quy định về khoán rừng, vườn cây và diện tích mặt nước trong các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông,lâm nghiệp Nhà nước. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 02 năm 2017.
Nghị định này quy định về khoán rừng tự nhiên, rừng trồng, đất rừng; vườn cây cao su, chè, cà phê, ca cao, quế và vườn cây lấy nhựa, tinh dầu, cây ăn quả lâu năm (sau đây viết chung là vườn cây), diện tích mặt nước trong các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn Điều lệ được nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp.
Theo đó, Nghị định quy định để được nhận khoán rừng, vườn cây và diện tích mặt nước thì bên khoán và bên nhận khoán phải có các tiêu chí sau:
Bên khoán: Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp và tài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; có kế hoạch tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch và dự án về bảo vệ và phát triển rừng hoặc đề án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Bên nhận khoán: Cá nhân nhận khoán có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và trong độ tuổi lao động, đảm bảo thực hiện được hợp đồng khoán và không là thành viên trong hộ gia đình hoặc cộng đồng dân cư thôn đã nhận khoán. Hộ gia đình nhận khoán có thành viên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và trong độ tuổi lao động, đảm bảo thực hiện hợp đồng khoán và không là thành viên của cộng đồng dân cư thôn đã nhận khoán. Cộng đồng dân cư thôn nhận khoán đảm bảo đủ điều kiện về tổ chức, nhân lực, vật lực để thực hiện hợp đồng khoán. Trường hợp số cá nhân, hộ gia đình đề nghị nhận khoán lớn hơn nhu cầu khoán, thì bên khoán ưu tiên khoán cho cá nhân, hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số; cá nhân, hộ gia đình người Kinh nghèo.
Nghị định quy định có hai hình thức khoán đó là khoán công việc, dịch vụ và khoán ổn định, theo đó quy định khoán công việc, dịch vụ gồm: Khoán trồng rừng, chăm sóc rừng, bảo vệ rừng đối với diện tích quy hoạch rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất; khoán sản xuất kinh doanh theo năm hoặc theo thời vụ thu hoạch đối với vườn cây và mặt nước trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Khoán ổn định gồm: Khoán khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên theo biện pháp kỹ thuật lâm sinh. Không áp dụng hình thức khoán này trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; khoán theo chu kỳ cây trồng, vật nuôi hoặc chu kỳ sản xuất kinh doanh đối với diện tích rừng trồng, vườn cây, mặt nước thực hiện khoán.
Nghị định cũng quy định, thời hạn khoán đối với các hình thức khoán sẽ theo thỏa thuận giữa các bên nhưng tối đa không quá 01 năm đối với khoán công việc, dịch vụ và không quá 20 năm đối với khoán ổn định.
Trường hợp hợp đồng hết thời hạn, nếu bên nhận khoán không vi phạm hợp đồng khoán, đáp ứng được các tiêu chí theo quy định có nhu cầu nhận khoán thì được tiếp tục ký hợp đồng.
Nghị định quy định hạn mức khoán đối với khoán công việc, dịch vụ sẽ do bên khoán và bên nhận khoán thỏa thuận với nhau. Riêng với khoán ổn định theo chu kỳ sản xuất kinh doanh thì hạn mức khoán theo thỏa thuận nhưng: Không quá 15 héc ta với cá nhân; Không quá 30 héc ta với hộ gia đình; Với cộng đồng dân cư thì tổng diện tích khoán không vượt quá tổng diện tích bình quân mỗi hộ gia đình trong cộng đồng không quá 30 héc ta tại thời điểm hợp đồng khoán.
Về đơn giá, Nghị định 168/2016/NĐ-CP hướng dẫn xác định theo suất đầu tư hoặc mức hỗ trợ theo quy định hiện hành. Mặt khác, có thể căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương để thỏa thuận đơn giá khoán.












