Ngày 29 tháng 12 năm 2017, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 50/2017/TT-BGTVT quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2018.
Theo đó, quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa cụ thể như sau:
1. Tiêu chí xác định điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông
Điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông được xác định khi thuộc một trong các trường hợp sau:Một trong các kích thước luồng thực tế nhỏ hơn trị số tối thiểu của cấp kỹ thuật tương ứng theo quy định (chiều sâu, bề rộng, bán kính cong) tại các bãi đá ngầm, bãi cạn, đoạn cạn và vật chướng ngại; một trong các kích thước: khẩu độ khoang thông thuyền, chiều cao tĩnh không, chiều sâu tại vị trí cầu và công trình khác trên sông, kênh nhỏ hơn trị số thấp nhất của cấp kỹ thuật tương ứng theo quy định; dòng chảy xiên so với trụ cầu, khoang thông thuyền; dòng chảy xiết, xoáy, tầm nhìn hạn chế; khu vực giao cắt giữa các tuyến đường thủy nội địa hoặc tuyến luồng hàng hải, vùng nước cảng biển có tầm nhìn hạn chế.
2. Tiêu chí xác định điểm đen
Điểm đen được xác định khi tình hình tai nạn giao thông xảy ra trong một năm (tính từ ngày 16 tháng 12 năm trước đến ngày 15 tháng 12 năm sau) tại điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông, thuộc một trong các trường hợp sau:Xảy ra 01 (một) vụ tai nạn giao thông có chết người; xảy ra 02 (hai) vụ tai nạn giao thông trở lên; có đồng thời từ 02 (hai) tiêu chí của điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông trở lên và xảy ra 01 (một) vụ tai nạn giao thông trở lên.
3. Hồ sơ vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa
- Đối với các công trình xây dựng: Bản vẽ hoàn công công trình (nếu có); hồ sơ theo dõi luồng, vật chướng ngại, phương tiện hoạt động tại khu vực; bản vẽ sơ đồ hiện trạng khu vực thể hiện công trình trên luồng, các đặc trưng khác của luồng (bề rộng luồng, vận tốc, hướng dòng chảy và các yếu tố khác...); các thông số kỹ thuật: kích thước khoang thông thuyền, âu tàu, tĩnh không đường dây, chiều sâu công trình ngầm; hồ sơ các vụ tai nạn giao thông do cơ quan Công an cung cấp (đối với điểm đen); ảnh chụp khu vực, dữ liệu camera hiện trường; các tài liệu khác (nếu có).
- Đối với hiện trạng tự nhiên (các bãi cạn, đoạn cạn, bãi đá ngầm, vật chướng ngại khác):Hồ sơ theo dõi luồng, phương tiện thủy nội địa, tàu biển hoạt động tại khu vực; bình đồ hiện trạng khu vực thể hiện báo hiệu, bãi cạn, vật chướng ngại, các đặc trưng khác của luồng (bề rộng luồng, bán kính cong, vận tốc, hướng dòng chảy và các yếu tố khác...); hồ sơ các vụ tai nạn giao thông do cơ quan Công an cung cấp (đối với điểm đen); ảnh chụp khu vực, dữ liệu camera hiện trường; các tài liệu khác (nếu có).
4. Các bước xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy
Xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa gồm 06 bước sau: Bước 1: Xác định sơ bộ và thống kê các vị trí nguy hiểm;bước 2: Khảo sát hiện trường và thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan; bước 3: Phân tích, đánh giá và xác định nguyên nhân; bước 4: Xếp hạng ưu tiên xử lý và lựa chọn biện pháp khắc phục; bước 5: Xử lý vị trí nguy hiểm; bước 6: Theo dõi và đánh giá kết quả.
5. Xác định sơ bộ và thống kê các vị trí nguy hiểm: Phân tích những yếu tố tiềm ẩn tai nạn giao thông, thống kê số vụ tai nạn giao thông ở các vị trí nguy hiểm trên đường thủy; lập hồ sơ vị trí nguy hiểm trên đường thủy; căn cứ vào các yếu tố tiềm ẩn tai nạn giao thông, số vụ tai nạn giao thông trong 12 tháng và mức độ nghiêm trọng về số người chết, bị thương, giá trị tài sản hư hỏng để sắp xếp sơ bộ thứ tự ưu tiên xử lý, báo cáo cấp có thẩm quyền.
6. Khảo sát hiện trường và thu thập các hồ sơ, tài liệu liên quan
Sau khi xác định và sơ bộ xếp hạng ưu tiên xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa, tiến hành khảo sát hiện trường để:Đối chiếu, bổ sung các đặc trưng tại hiện trường: hệ thống báo hiệu, công trình, bãi cạn, vật chướng ngại, các đặc trưng khác của luồng (tầm nhìn, bán kính cong, bề rộng luồng, vận tốc và hướng dòng chảy, các yếu tố khác...) và hiện trạng hành lang bảo vệ luồng, hiện trạng ngoài hành lang bảo vệ luồng; phác họa sơ đồ, chụp ảnh hiện trường; xác định lưu lượng, loại phương tiện thủy nội địa, tàu biển và tình trạng giao thông; điều tra về tình hình thời tiết, khí hậu và các yếu tố môi trường khác có ảnh hưởng đến an toàn giao thông; điều tra, đánh giá chung về trình độ nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về giao thông đường thủy nội địa của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông.
7. Phân tích, đánh giá và sơ bộ xác định nguyên nhân: Căn cứ kết quả khảo sát và hồ sơ hiện trường đã thu thập được, tiến hành xây dựng bản vẽ sơ đồ mặt bằng (các vụ tai nạn hoặc mặt bằng hiện trạng khu vực) theo tỷ lệ hợp lý thể hiện các đặc trưng chính của luồng: khu vực giao cắt, báo hiệu, công trình, bãi cạn, vật chướng ngại, cấp kỹ thuật, các đặc trưng khác, điều kiện tự nhiên - xã hội hai bên luồng (đường bờ, đê điều, vật kiến trúc, khu dân cư, bến bãi) và sơ đồ các vụ tai nạn. Tiến hành phân tích từng vị trí để xác định sơ bộ nguyên nhân.
8. Xếp hạng ưu tiên xử lý và lựa chọn biện pháp khắc phục
Căn cứ vào các nguyên nhân đã xác định để tiến hành:
-Xếp hạng ưu tiên xử lý các vị trí nguy hiểm.
- Đề xuất biện pháp khắc phục theo nguyên tắc: Giảm thiểu hoặc triệt tiêu nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông; không được phát sinh nguyên nhân khác gây ra tai nạn giao thông; không gây ảnh hưởng xấu đến bảo đảm giao thông và môi trường xung quanh.
9. Xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa: Hồ sơ thiết kế, phương án xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa được lập theo quy định; thi công xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa phải tuân thủ phương án, thiết kế được duyệt và các quy định của pháp luật để đảm bảo an toàn giao thông khi thi công và khai thác; nguồn vốn xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa được bố trí từ nguồn ngân sách của Trung ương, địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định.
10. Theo dõi và đánh giá kết quả xử lý: Công tác theo dõi, đánh giá kết quả xử lý vị trí nguy hiểm trên đường thủy nội địa do cơ quan quản lý đường thủy nội địa khu vực thực hiện và báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định. Đối với luồng chuyên dùng do tổ chức, cá nhân có luồng chuyên dùng thực hiện.
