Các quy định về lập biên bản vi phạm hành chính, việc giải trình được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2022 (viết tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính); Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (viết tắt là Nghị định số 118/2021/NĐ-CP). Bài viết đề cập đến các mốc thời gian cần lưu ý để đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính trong lập biên bản vi phạm hành chính và giải trình.
Quy định liên quan đến quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2022 (viết tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính); Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (viết tắt là Nghị định số 118/2021/NĐ-CP). Bài viết đề cập đến các mốc thời gian cần lưu ý liên quan đến quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Pháp luật không quy định thế nào là “ủy quyền”. Tuy nhiên, tại Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Ủy quyền là một hình thức xác lập quyền đại diện giữa người được đại diện và người đại diện (gọi là đại diện theo ủy quyền). Bên cạnh quy định chung về ủy quyền tại Bộ luật Dân sự, pháp luật chuyên ngành quy định những trường hợp không được ủy quyền.
Hiện nay, Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi) (Dự thảo 11/4)[1] hiện đang trong quá trình lấy ý kiến của Đại biểu Quốc hội, của các ngành, các tổ chức và các chuyên gia nhằm hoàn thiện dự án Luật trình lên Quốc hội xem xét trong Kỳ họp thứ 5. Bài viết góp ý một số quy định của Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi) nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập tại Việt Nam.
[1]Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi), Dự thảo mới nhất ngày 11 tháng 4 năm 2023.
Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác (khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá). Theo WHO, sử dụng thuốc lá là nguyên nhân gây ra hơn 8 triệu ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm. Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng 40.000 người tử vong/năm vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng này, nhưng đa số là do thiếu hiểu biết về tác hại nghiêm trọng của thuốc lá đối với sức khỏe con người. Trong khói thuốc lá chứa hơn 7.000 chất hóa học, trong đó có hàng trăm loại có hại cho sức khỏe, 70 chất gây ung thư, điển hình như: ung thư phổi, bệnh tim mạch, phổi tắc nghẽn mạn tính, vô sinh và nhiều bệnh nan y khác… Ngoài ra, trong thuốc lá còn bao gồm chất gây nghiện và các chất gây độc.
Các văn bản liên quan đến tài sản riêng của vợ chồng được lập trên thực tế với các tên gọi: văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng, văn bản cam kết tài sản riêng của vợ chồng, văn bản cam đoan tài sản riêng của vợ chồng. Văn bản này có phải là giao dịch hay không để xác định việc công chứng hay chứng thực? thực tiễn vấn đề này vẫn chưa thống nhất.
