Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013 đã quy định về xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, được đánh giá là một trong những chính sách quan trọng, có tính đột phá nhằm huy động nguồn lực xã hội cho công tác này. Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả trên thực tế cần có các giải pháp thực hiện mang tính quyết liệt, đột phá hơn nữa.
Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 7 đã thông qua Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự 2005), có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, trong đó bán đấu giá tài sản được quy định từ Điều 456 đến Điều 459. Ngày 04 tháng 3 năm 2010 Chính phủ ban hành Nghị định 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản (Nghị định số 17/2005/NĐ-CP) thay thế Nghị định 05/2005/NĐ-CP đã ban hành trước đó nhằm cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Dân sự về bán đấu giá tài sản. Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đã khắc phục được nhiều vướng mắc của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về bán đấu giá tài sản. Hoạt động bán đấu giá tài sản đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng đối với việc củng cố, phát triển các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp và đáp ứng tương đối tốt nhu cầu của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động bán đấu giá tài sản còn nhiều những vướng mắc, bất cập. Trong phạm vi bài viết này chỉ xin trao đổi về việc công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá là bất động sản.
Ngày 05/4/2016 thực hiện Thông báo kết luận số 24/TB-UBND, ngày 28/ 3/2016 của Chủ tịch UBND thị xã Hương Thủy tại phiên họp soát xét việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT ngày 15/5/2015 của Bộ tư pháp, Bộ Công an, Bộ Y tế, phòng Tư pháp tiếp tục phối hợp với Công an thị xã hướng dẫn cho cán bộ tư pháp - hộ tịch các xã phường về hồ sơ thủ tục đăng ký thường trú.
Ngày 30/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 111/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, trị trấn (sau đây gọi tắt là Nghị định số 111/2013/NĐ-CP).
Sau hơn 14 năm thi hành, Bộ luật Hình sự (sửa đổi) năm 1999 đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Quyết định hành chính (sau đây viết tắt là QĐHC) là văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhân danh quyền lực công nhằm quyết định một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Nội dung QĐHC làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt nghĩa vụ, quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc liên quan đến lợi ích cộng đồng, do đó, QĐHC tác động trực tiếp đến đời sống của người dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Quyền tiếp cận thông tin là một quyền con người và là quyền cơ bản của công dân thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên. Quyền tiếp cận thông tin được tiếp tục khẳng định trong nhiều điều ước quốc tế khác như Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường. Hiến pháp năm 1992 ghi nhận quyền được thông tin của công dân và Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tiếp cận thông tin của công dân, đồng thời, lần đầu tiên, Hiến pháp năm 2013 đã hiến định các nguyên tắc thực hiện và hạn chế quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền tiếp cận thông tin. Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, cùng với quá trình đổi mới kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có các quy định về thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quyền được thông tin và pháp luật về quyền được thông tin ở nước ta hiện nay còn nhiều vướng mắc, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Do vậy, việc xây dựng, ban hành Luật tiếp cận thông tin trong thời điểm hiện nay là cần thiết và thích hợp nhằm khắc phục các bất cập về pháp luật và cơ chế thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin hiện hành, tạo khuôn khổ pháp lý chung về ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đồng thời phù hợp với các yêu cầu mới do Hiến pháp năm 2013 đặt ra.
Việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) nhằm phát huy tối đa quyền làm chủ, huy động trí tuệ của Nhân dân trong việc góp ý vào nội dung dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi), bảo đảm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đời sống của Nhân dân. Dự thảo được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân với nhiều hình thức: góp ý trực tiếp bằng văn bản; tổ chức hội nghị, hội thảo; thông qua trang thông tin điện tử… Nội dung lấy ý kiến bao gồm toàn bộ dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) trong đó tập trung vào 10 vấn đề trọng tâm được xác định theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Sau đây là ý kiến đóng góp của nhân dân vào 10 vấn đề trọng tâm trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) tại tỉnh Thừa Thiên Huế:
Sau hơn 9 năm thi hành, Bộ luật dân sự năm 2005 cơ bản đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản giữa các chủ thể trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động... Tuy nhiên, Bộ luật dân sự hiện hành còn có những bất cập, hạn chế như chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm bình đẳng giới thực chất cho cá nhân, cụ thể như: Chưa bảo đảm nguyên tắc quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế bởi luật trong những trường hợp đặc biệt như Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận; một số quy định về cá nhân, giao dịch dân sự, đại diện, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế còn chưa thực sự bảo đảm tính khả thi về bình đẳng giới; chưa tạo được cơ chế pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền, lợi ích của bên thứ ba ngay tình, của bên thiện chí, bên yếu thế trong quan hệ dân sự… Hạn chế này lại càng biểu hiện rõ nét trong bối cảnh hiện nay khi mà Hiến pháp năm 2013 đã đặt ra nhiều yêu cầu mới trong việc bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân ở nước ta. Thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, do yếu tố về văn hóa, tập quán truyền thống và vị thế kinh tế thì người phụ nữ dễ trở thành bên yếu thế trong quan hệ dân sự.
