Về mặt nguyên tắc, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật (Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020). Tuy nhiên, có những trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hành chính nhưng pháp luật quy định không xử phạt vì đó là những trường hợp ngoài khả năng, mong muốn của người có hành vi vi phạm. Cụ thể, tại Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) quy định 05 trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính sau đây: (1) Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết; (2) Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng; (3) Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ; (4) Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng; (5) Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính.
Giao quyền trong xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính). Theo đó, có 03 trường hợp giao quyền trong xử phạt vi phạm hành chính: giao quyền xử phạt (Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính), giao quyền quyết định cưỡng chế (Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính), giao quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính (Điều 123 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây: Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Tổ chức chính quyền địa phương) quy định về phân quyền, phân cấp, uỷ quyền trong quản lý Nhà nước. Trong đó, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp[1].
Trong xử phạt vi phạm hành chính, có 05 hình thức xử phạt, gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; trục xuất. Trong đó, hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền là hình thức xử phạt chính; các hình thức còn lại có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính. Bài viết giới thiệu việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính.
Sau khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành, quyết định này cần được thi hành nghiêm túc, đảm bảo thời hạn và quy định pháp luật.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước, vì vậy nhằm đảm bảo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng tạo khung pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động của các doanh nghiệp. Cùng với đó, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cũng được Nhà nước quan tâm nhằm định hướng, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, giúp doanh nghiệp hoạt động và phát triển dựa trên một nền tảng pháp lý ổn định, bền vững và lâu dài.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đỏi bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) thì: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Theo đó, người bị xử phạt vi phạm hành chính là “cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính”. Vấn đề đặt ra, trong trường hợp có hành vi vi phạm hành chính nhưng người thực hiện hành vi vi phạm đã chết hoặc tổ chức đã phá sản, giải thể (không còn tồn tại) thì có lập biên bản vi phạm hành chính không?
