1. Chị Hạnh có con trai 16 tuổi đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và có ý định đề nghị cơ quan chức năng cho cháu đeo thiết bị giám sát điện tử. Chị thắc mắc: Thiết bị này là gì và thời hạn áp dụng đối với con trai chị được quy định cụ thể là bao lâu?
Trả lời:
Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định về thiết bị giám sát điện tử; đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử như sau:
- Về thiết bị giám sát điện tử:
Thiết bị giám sát điện tử là thiết bị giám sát định vị viễn thông đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được đeo trên cơ thể để xác định vị trí của người bị giám sát, do Bộ Công an trang cấp.
- Về đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử:
1. Đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên:
a) Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, quản lý sau cai nghiện ma túy;
b) Người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành.
2. Đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi:
a) Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định nhưng được cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử thì bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 01 năm kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành hoặc đến khi hết thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; quản lý sau cai nghiện đối với trường hợp thời gian cai nghiện, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, quản lý sau cai nghiện còn ít hơn 01 năm kể từ ngày ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử.
Việc đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử được thực hiện theo Mẫu số 01 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời gian quản lý sau cai nghiện.
Pháp luật quy định việc sử dụng thiết bị định vị do cơ quan công an trang cấp để theo dõi chặt chẽ vị trí của người đang cai nghiện hoặc quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng. Thời hạn áp dụng biện pháp này được phân định rõ ràng dựa trên độ tuổi cũng như hình thức điều trị của từng nhóm đối tượng cụ thể. Điều này mang ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp gia đình và chính quyền phối hợp quản lý hiệu quả rủi ro tái nghiện nhằm giữ vững an ninh trật tự an toàn xã hội.
2. Gia đình anh Tuấn nhận được thông báo anh sẽ phải đeo thiết bị giám sát điện tử sau khi hoàn thành chương trình cai nghiện. Gia đình thắc mắc: Cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định này và việc gắn thiết bị lên người anh Tuấn sẽ diễn ra trong thời gian bao lâu kể từ khi có quyết định?
Trả lời:
Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định về quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử; quy trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử như sau:
- Về quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử:
1. Trưởng Công an cấp xã nơi lập danh sách quản lý người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy và người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế căn cứ vào đối tượng và thời hạn giám sát điện tử quy định tại Điều 15 của Nghị định này để ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử.
2. Thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử:
a) Trưởng Công an cấp xã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người quy định tại điểm a, điểm b khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 15 của Nghị định này trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Công an cấp xã ra quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; nhận được thông báo tiếp nhận điều trị của cơ sở điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc nhận được quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;
b) Trưởng Công an cấp xã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 của Nghị định này hoặc tài liệu về hành vi vi phạm đối với người quy định tại khoản 6 Điều 25 của Nghị định này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử thực hiện theo Mẫu số 02 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Đối với người hoàn thành cai nghiện tại cơ sở cai nghiện, trường giáo dưỡng, Trưởng Công an cấp xã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đề nghị cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng, Công an cấp xã nơi cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân đặt trụ sở thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử trước khi người hoàn thành cai nghiện ma túy ra khỏi cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng.
4. Trưởng Công an cấp xã có thể ủy quyền cho Phó trưởng Công an cấp xã thực hiện quyền quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
- Về quy trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử:
1. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành, cán bộ Công an cấp xã được giao nhiệm vụ thực hiện giám sát điện tử có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và tiến hành đeo thiết bị giám sát lên cơ thể người bị giám sát. Việc thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được lập thành biên bản theo Mẫu số 03 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Cán bộ Công an có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải thông báo cho người bị giám sát; cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người bị giám sát từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi về Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử; các quy định liên quan đến biện pháp giám sát điện tử và yêu cầu người bị giám sát ký cam kết thực hiện biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 04 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được gửi cho người bị giám sát điện tử và gia đình của họ; cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người bị giám sát từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi; cán bộ Công an cấp xã thực hiện việc giám sát điện tử và người có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử.
4. Người hoàn thành cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng. Theo đề nghị của Công an cấp xã nơi ra Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử, cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng, Công an cấp xã nơi cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân đặt trụ sở có trách nhiệm thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử trước khi người hoàn thành cai nghiện ma túy ra khỏi cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng và thông báo cho Công an cấp xã nơi ra Quyết định để thực hiện việc giám sát điện tử.
Thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được giao trực tiếp cho Trưởng Công an cấp xã với thời hạn xử lý hồ sơ cực kỳ nhanh chóng. Quy trình thi hành và trực tiếp đeo thiết bị định vị lên cơ thể người bệnh cũng phải được triển khai ngay lập tức trong vòng hai mươi bốn giờ. Sự khẩn trương và tính kỷ luật cao trong quy trình thủ tục này giúp cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ di biến động của người bệnh nhằm phòng ngừa tối đa nguy cơ tái nghiện.
3. Chị Mai đang bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử tại thành phố Huế nhưng chuẩn bị có chuyến đi ra nước ngoài kéo dài 10 ngày. Đồng thời chị cũng lo lắng không biết nếu thiết bị đeo trên người đột nhiên bị hỏng hóc kỹ thuật thì phải xử lý ra sao. Chị Mai thắc mắc: Chị có được tháo thiết bị định vị trong thời gian xuất cảnh không? Khi thiết bị gặp sự cố thì cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm thay thế?
Trả lời:
Điều 18, 19 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định nội dung, quy trình giám sát điện tử; tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo, thay thế thiết bị giám sát điện tử như sau:
- Về nội dung, quy trình giám sát điện tử:
1. Nội dung giám sát điện tử bao gồm:
a) Thực hiện đeo thiết bị giám sát điện tử;
b) Xử lý các cảnh báo của thiết bị giám sát điện tử;
c) Giáo dục, tư vấn người bị giám sát điện tử;
d) Xử lý các hành vi vi phạm trong thực hiện giám sát điện tử;
đ) Tháo thiết bị giám sát điện tử và đeo lại thiết bị giám sát điện tử trong trường hợp tháo tạm thời; thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử; tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử;
e) Tháo thiết bị giám sát điện tử khi người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử được miễn phần thời gian còn lại, chấm dứt giám sát điện tử;
g) Thay thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát trong trường hợp thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo bị hư hỏng;
h) Quản lý, thu hồi thiết bị giám sát điện tử, khắc phục, xử lý sự cố kỹ thuật.
2. Quy trình thực hiện các nội dung quy định tại khoản 1 điều này thực hiện theo quy định của Bộ Công an.
- Về tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo, thay thế thiết bị giám sát điện tử:
1. Người bị giám sát điện tử được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử trong các trường hợp:
a) Vì mục đích khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Đi ra ngoài lãnh thổ Việt Nam bằng đường hàng không;
c) Đi ra ngoài lãnh thổ Việt Nam từ 07 ngày trở lên;
d) Bị tạm giữ hình sự, tạm giam.
Người quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều này phải làm đơn đề nghị tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử gửi Công an cấp xã theo Mẫu số 05 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
Công an cấp xã nơi thực hiện biện pháp giám sát điện tử tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử đối với những người quy định tại khoản này. Trường hợp người quy định tại điểm a khoản này phải khám bệnh, chữa bệnh khẩn cấp tại địa điểm ngoài phạm vi cư trú có thể đề nghị Công an cấp xã nơi khám bệnh, chữa bệnh tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử. Công an cấp xã sau khi thực hiện tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử phải báo cho Công an cấp xã nơi thực hiện biện pháp giám sát điện tử biết.
Người thi hành quyết định tạm giữ hình sự, tạm giam trong trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này phải có văn bản đề nghị tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử gửi Công an cấp xã nơi thực hiện giám sát điện tử theo Mẫu số 06 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp địa điểm thi hành quyết định tạm giữ hình sự, tạm giam ở ngoài phạm vi địa bàn của Công an cấp xã nơi đang thực hiện việc giám sát điện tử, để bảo đảm yêu cầu công tác, Cơ quan thi hành quyết định tạm giữ hình sự, tạm giam có thể đề nghị Công an cấp xã nơi thi hành quyết định tạm giữ, tạm giam tiến hành tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử và báo cho Công an cấp xã nơi thực hiện biện pháp giám sát điện tử biết.
Khi hoàn thành việc khám bệnh, chữa bệnh; đi nước ngoài trở về Việt Nam; chấp hành xong quyết định tạm giữ hình sự, tạm giam trở về cộng đồng, người bị giám sát điện tử phải liên hệ ngay với Công an cấp xã nơi tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử để đeo lại thiết bị giám sát điện tử và tiếp tục thực hiện biện pháp giám sát điện tử nếu quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử còn thời hạn.
2. Việc tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử phải lập biên bản theo Mẫu số 07 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
Việc đeo lại thiết bị giám sát điện tử đối với người được tháo tạm thời phải lập biên bản theo Mẫu số 08 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
3. Người bị giám sát điện tử có thể làm đơn đề nghị Công an cấp xã thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử theo Mẫu số 05 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này nếu thời gian đeo thiết bị giám sát điện tử tại một vị trí đã từ đủ 01 tháng trở lên hoặc theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần phải thay đổi vị trí đeo đối với người đó. Việc thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử phải được lập biên bản theo Mẫu số 09 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
4. Khi xác định thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật, cán bộ Công an cấp xã tiến hành thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát, bảo đảm thiết bị và phụ kiện kèm theo hoạt động bình thường. Việc thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 10 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
Pháp luật quy định cụ thể các trường hợp người bị giám sát điện tử được phép tháo thiết bị tạm thời như đi khám y tế hoặc xuất cảnh dài ngày. Toàn bộ quy trình tháo lắp hay thay thế phụ kiện hư hỏng đều do cơ quan công an cấp xã trực tiếp tiếp nhận xử lý và lập hồ sơ chặt chẽ. Cơ chế này bảo đảm tôn trọng quyền tự do đi lại hợp pháp của công dân đồng thời duy trì tính nghiêm minh trong công tác quản lý an ninh trật tự tại cơ sở.
4. Anh Hải (trên 18 tuổi) đã chấp hành tốt việc đeo thiết bị giám sát điện tử tại phường An Cựu suốt 01 năm qua mà không hề vi phạm quy định. Nay anh chuẩn bị làm thủ tục chuyển nhà sang một phường khác sinh sống. Anh Hải thắc mắc: Anh có được xét miễn đeo thiết bị định vị trong thời gian còn lại không? Trường hợp chưa được miễn mà phải chuyển nơi cư trú thì cơ quan công an sẽ quản lý anh như thế nào?
Trả lời:
Điều 20, 21 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định tạm dừng, miễn chấp hành thời gian còn lại, chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử; Xử lý trường hợp người bị giám sát điện tử vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú như sau:
- Về tạm dừng, miễn chấp hành thời gian còn lại, chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử:
1. Trưởng Công an cấp xã ra Quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 11 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này trong các trường hợp sau:
a) Người bị giám sát điện tử phải chấp hành án phạt tù;
b) Người bị giám sát điện tử phải thi hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng.
2. Việc thi hành Quyết định tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải được lập biên bản theo Mẫu số 12 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Khi người quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này trở về địa phương, nếu thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử vẫn còn thì phải tiếp tục đeo thiết bị giám sát điện tử. Việc đeo lại thiết bị giám sát điện tử đối với người này phải được lập biên bản theo Mẫu số 08 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
3. Trưởng Công an cấp xã xem xét ra quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại của quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 13 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này đối với:
a) Người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định này sau khi thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được 01 năm mà trong quá trình thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử không có hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác;
b) Người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định này sau khi thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử được 06 tháng mà trong quá trình thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử không có hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Việc thi hành quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại của quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 14 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
4. Trưởng Công an cấp xã ra Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo Mẫu số 15 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này trong các trường hợp sau:
a) Hết thời hạn giám sát theo Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử;
b) Người bị giám sát điện tử đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện, trường giáo dưỡng;
c) Người bị giám sát điện tử không còn thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; điều trị nghiện ma túy bằng thuốc thay thế hoặc quản lý sau cai nghiện ma túy;
d) Người bị giám sát điện tử chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất tích.
Việc thi hành Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải được lập biên bản theo Mẫu số 16 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
5. Quyết định tạm dừng, miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại, chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử được gửi cho người bị giám sát điện tử và gia đình của họ; cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người bị giám sát từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi; cán bộ Công an cấp xã được phân công thực hiện biện pháp giám sát điện tử.
6. Công an cấp xã liên lạc với người bị giám sát điện tử để thông báo quyết định, thi hành quyết định và lập biên bản thi hành quyết định đối với các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều này.
7. Trưởng Công an cấp xã có thể ủy quyền cho Phó trưởng Công an cấp xã thực hiện quyền quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều này.
- Về xử lý trường hợp người bị giám sát điện tử vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú:
1. Khi người bị giám sát điện tử vắng mặt tại nơi cư trú, Công an cấp xã đang giám sát điện tử phối hợp với Công an cấp xã nơi đến để trao đổi thông tin và phối hợp thực hiện giám sát, quản lý.
2. Khi người bị giám sát điện tử thay đổi nơi cư trú, Công an cấp xã nơi chuyển đi bàn giao việc giám sát điện tử cho Công an cấp xã nơi chuyển đến trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm người bị giám sát điện tử hoàn thành thủ tục thay đổi nơi cư trú theo quy định để tiếp tục thực hiện giám sát, quản lý. Trưởng Công an cấp xã nơi người bị giám sát chuyển đến ra quyết định phân công cán bộ tiếp nhận và thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với thời hạn còn lại theo quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của Trưởng Công an cấp xã nơi đối tượng chuyển đi theo Mẫu số 17 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
Pháp luật quy định cơ chế miễn chấp hành thời gian giám sát còn lại đối với những cá nhân có ý thức tuân thủ tốt nhằm khích lệ tinh thần tự giác hướng thiện. Đồng thời quy trình bàn giao hồ sơ khi người bệnh thay đổi nơi ở cũng được yêu cầu thực hiện vô cùng chặt chẽ và khẩn trương giữa các cơ quan công an cơ sở. Điều này giúp chính quyền duy trì sự quản lý an ninh liền mạch mà vẫn tạo động lực to lớn cho người lầm lỡ tích cực tái hòa nhập cộng đồng.
5. Anh Nam làm hỏng phụ kiện dây đeo của thiết bị giám sát điện tử và sau đó cố tình để máy hết pin suốt hai ngày nhằm né tránh sự theo dõi. Anh Nam thắc mắc: Anh phải xử lý thế nào khi làm hỏng thiết bị và việc cố tình để máy hết pin có bị coi là hành vi vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Điều 22, 23, 24 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử; Quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử; Các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử như sau:
- Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử:
1. Bộ Công an có trách nhiệm quản lý, vận hành, theo dõi hoạt động của hệ thống giám sát điện tử trên phạm vi toàn quốc.
2. Công an cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý, theo dõi hoạt động của hệ thống giám sát điện tử trên phạm vi cấp tỉnh.
3. Công an cấp xã có trách nhiệm quản lý, sử dụng thiết bị giám sát điện tử trên phạm vi cấp xã; ra quyết định và trực tiếp thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy và người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế cư trú trên địa bàn.
4. Cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định tại khoản 4 Điều 17 của Nghị định này.
5. Các cơ quan, tổ chức thực hiện việc kiểm soát an ninh không bắt buộc người bị giám sát điện tử phải tháo thiết bị giám sát điện tử nếu việc đeo thiết bị không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn.
- Về quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử:
1. Quyền của người bị giám sát điện tử:
a) Được phổ biến, quán triệt về quy định, chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm về biện pháp giám sát điện tử;
b) Được tư vấn, hướng dẫn về tính năng, tác dụng và cách sử dụng thiết bị giám sát điện tử;
c) Đề nghị Công an cấp xã tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử trên cơ thể theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 19 của Nghị định này.
2. Nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử:
a) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của cơ quan có thẩm quyền;
b) Cam kết tuân thủ quy định giám sát điện tử;
c) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện thiết bị giám sát điện tử hư hỏng; phụ kiện kèm theo thiết bị giám sát điện tử bị hư hỏng, mất thì phải báo cho Công an cấp xã để xử lý;
d) Đền bù thiệt hại vật chất đối với thiết bị, phụ kiện kèm theo nếu việc hư hỏng, mất thiết bị, phụ kiện kèm theo do lỗi của người bị giám sát.
- Về các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử:
1. Các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử bao gồm:
a) Phá hủy, tác động làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của thiết bị giám sát điện tử và các phụ kiện kèm theo;
b) Không chấp hành việc đeo thiết bị giám sát điện tử;
c) Tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử;
d) Cố ý để thiết bị giám sát điện tử hết pin trong thời hạn 24 giờ mà không có lý do chính đáng;
đ) Sau khi hết thời gian tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử, tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định mà không trình diện Công an cấp xã trong vòng 24 giờ để được đeo lại thiết bị giám sát điện tử theo quy định.
2. Trường hợp thiết bị không hoạt động hoặc hoạt động không bình thường do có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lỗi kỹ thuật của thiết bị và người bị giám sát đã thông báo cho Công an cấp xã trong thời hạn 24 giờ kể từ khi sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan kết thúc thì không bị coi là vi phạm biện pháp giám sát điện tử.
Pháp luật quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử đi kèm với danh mục cụ thể các hành vi vi phạm bị cấm tuyệt đối, cơ chế này đòi hỏi người chấp hành phải nâng cao ý thức tự giác tuân thủ và chủ động báo cáo với lực lượng công an cơ sở khi xảy ra bất kỳ sự cố kỹ thuật nào. Việc nhận diện chi tiết các hành vi chống đối mang ý nghĩa cốt lõi giúp cơ quan chức năng ngăn chặn triệt để mọi thủ đoạn trốn tránh sự quản lý của nhà nước.
6. Một doanh nghiệp sản xuất đa ngành tại thành phố Huế có nhu cầu nhập khẩu tiền chất công nghiệp và một số loại thuốc hướng thần để phục vụ nghiên cứu y tế. Doanh nghiệp thắc mắc: Việc xin phép tiến hành các hoạt động hợp pháp liên quan đến những hóa chất đặc thù này phải thực hiện tại cơ quan quản lý nhà nước nào?
Trả lời:
Điều 27 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định Cơ quan có thẩm quyền cho phép các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy như sau:
1. Bộ Công an cho phép cơ quan, tổ chức được tiến hành các hoạt động sau:
a) Nghiên cứu các chất ma túy, tiền chất thuộc các Danh mục chất ma túy và tiền chất do Chính phủ quy định (trừ các chất ma túy, tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp và môi trường thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; các tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp, quốc phòng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng);
b) Sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu các chất ma túy, tiền chất thuộc các Danh mục chất ma túy và tiền chất do Chính phủ quy định (trừ các chất ma túy, tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp và môi trường thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; các tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp, quốc phòng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng);
c) Vận chuyển các chất ma túy, tiền chất thuộc các Danh mục chất ma túy, tiền chất do Chính phủ quy định;
d) Quá cảnh lãnh thổ Việt Nam các chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc; thuốc thú y và nguyên liệu làm thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất;
đ) Các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy vì mục đích quốc phòng, an ninh.
2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép tổ chức, cá nhân được:
a) Nghiên cứu, kiểm nghiệm, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi thuốc thú y và nguyên liệu làm thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất; thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản và nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa tiền chất;
b) Nhập khẩu, xuất khẩu thuốc thú y và nguyên liệu làm thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất; thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản và nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa tiền chất.
3. Bộ Công Thương hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép tổ chức, cá nhân được:
a) Nghiên cứu, kiểm nghiệm, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi tiền chất công nghiệp;
b) Nhập khẩu, xuất khẩu tiền chất công nghiệp;
c) Tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập chất ma túy, tiền chất thuộc các Danh mục chất ma túy và tiền chất do Chính phủ quy định; thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất; nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc; thuốc thú y và nguyên liệu làm thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất; nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa tiền chất.
4. Bộ Y tế hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép các cơ quan, tổ chức, cá nhân được:
a) Nghiên cứu, kiểm nghiệm, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc;
b) Nhập khẩu, xuất khẩu thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất; nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc;
c) Nhập khẩu chất chuẩn thuộc danh mục dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc phục vụ nghiên cứu, kiểm nghiệm thuốc.
5. Bộ Quốc phòng cho phép các đơn vị được chỉ định tiến hành hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý tiền chất thuộc các Danh mục tiền chất do Chính phủ quy định (trừ các tiền chất thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an) sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng. Điều kiện, tiêu chuẩn đối với các hoạt động nêu trên được thực hiện theo các quy định hiện hành trong lĩnh vực quốc phòng nhằm đáp ứng yêu cầu đặc thù, cấp bách cho quốc phòng.
6. Bộ Công an có trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự; chỉ đạo các đơn vị chức năng tổ chức thực hiện trình tự, thủ tục giám định chất ma túy, tiền chất theo quy định của Luật Giám định tư pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và quy định tại Mục 3 Chương IV của Nghị định này.
Pháp luật quy định rõ ràng thẩm quyền quản lý và cấp phép các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy cho từng bộ ngành dựa trên mục đích sử dụng chuyên biệt giúp nâng cao hiệu quả và chuyên môn hóa công tác kiểm soát rủi ro. Điều này mang ý nghĩa thiết thực nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho doanh nghiệp phát triển sản xuất đồng thời ngăn chặn tuyệt đối nguy cơ thất thoát tiền chất độc hại ra cộng đồng.
7. Một viện nghiên cứu có kế hoạch sử dụng một số loại tiền chất đặc thù để thử nghiệm khoa học. Đại diện viện thắc mắc: Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất và các nội dung liên quan đến kiểm soát hoạt động nghiên cứu chất ma túy, tiền chất được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 27 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy
quy định về kiểm soát hoạt động nghiên cứu chất ma túy, tiền chất như sau:
1. Hồ sơ đề nghị cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất:
a) Văn bản đề nghị cấp phép nghiên cứu theo Mẫu số 01 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ của tổ chức nghiên cứu hoặc văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức;
c) Bản sao có chứng thực kế hoạch nghiên cứu (hoặc kết quả họp hội đồng tư vấn tuyển chọn hoặc văn bản giao trực tiếp nhiệm vụ khoa học và công nghệ) được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
d) Các tài liệu khác: danh sách, nhiệm vụ của những người tham gia nghiên cứu kèm lý lịch khoa học (nếu có); tài liệu chứng minh tính hợp pháp của chất ma túy, tiền chất (tên, địa chỉ tổ chức cung cấp chất ma túy, tiền chất); biện pháp đảm bảo an toàn hóa chất và điều kiện bảo quản chất ma túy, tiền chất; biện pháp xử lý tồn dư chất ma túy, tiền chất trong quá trình nghiên cứu.
2. Trình tự, thủ tục cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất
a) Tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khi có kế hoạch nghiên cứu chất ma túy, tiền chất (hoặc kết quả họp hội đồng tư vấn tuyển chọn hoặc văn bản giao trực tiếp nhiệm vụ khoa học và công nghệ) được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 của Nghị định này chuẩn bị 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp phép theo quy định tại khoản 1 Điều này, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến về Bộ Công an (Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy);
b) Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ và hợp lệ, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền cấp phép có văn bản yêu cầu tổ chức sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Trường hợp hết thời hạn yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc hồ sơ sửa đổi, bổ sung không đáp ứng yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cấp phép ban hành văn bản từ chối cấp phép và nêu rõ lý do;
c) Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp phép thẩm định hồ sơ, trong trường hợp cần thiết thực hiện đánh giá thực tế tại tổ chức và ban hành Quyết định cấp phép.
3. Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất theo Mẫu số 02 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. Thời hạn cấp phép nghiên cứu được xác định theo hồ sơ đề nghị cấp phép nghiên cứu nhưng tối đa không quá 02 năm và được gia hạn một lần tối đa không quá 01 năm.
4. Hồ sơ, trình tự, thủ tục điều chỉnh, cấp lại Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất
a) Trường hợp Quyết định cấp phép bị mất, sai sót, hư hỏng hoặc có thay đổi về thông tin của tổ chức, tổ chức lập 01 bộ hồ sơ đề nghị điều chỉnh, cấp lại Quyết định cấp phép; gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến về Bộ Công an;
b) Hồ sơ đề nghị điều chỉnh, cấp lại Quyết định bao gồm: Văn bản đề nghị điều chỉnh, cấp lại Quyết định cấp phép nghiên cứu, trong đó nêu rõ nội dung, lý do điều chỉnh, cấp lại; tài liệu xác nhận các nội dung điều chỉnh;
c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp phép kiểm tra, cấp lại Quyết định cấp phép cho tổ chức. Trường hợp từ chối điều chỉnh, cấp lại, cơ quan có thẩm quyền cấp phép trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;
d) Thời hạn của Quyết định cấp lại bằng thời hạn còn lại của Quyết định đã cấp;
đ) Trường hợp có thay đổi về địa điểm, quy mô, chủng loại, quy trình sản xuất chất ma túy, tiền chất thì tổ chức lập 01 bộ hồ sơ đề nghị, bao gồm: công văn đề nghị, tài liệu chứng minh sự thay đổi và gửi cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Cơ quan cấp phép tiến hành thẩm định các nội dung điều chỉnh, đánh giá thực tế tại tổ chức và cấp lại Giấy chứng nhận theo trình tự, thủ tục như cấp mới Giấy chứng nhận.
5. Hồ sơ, trình tự, thủ tục gia hạn Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất:
a) Quyết định cấp phép được gia hạn trong trường hợp hết thời hạn nhưng kế hoạch nghiên cứu chưa thực hiện được hoặc chưa thực hiện xong;
b) Trước khi Quyết định cấp phép hết hạn tối thiểu 03 ngày làm việc, tổ chức có nhu cầu gia hạn phải lập 01 bộ hồ sơ đề nghị gia hạn Quyết định cấp phép gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến về Bộ Công an;
c) Hồ sơ đề nghị gia hạn bao gồm: Văn bản đề nghị gia hạn, trong đó nêu rõ lý do, thời gian đề nghị gia hạn; báo cáo tình hình, kết quả hoạt động nghiên cứu đã thực hiện đến thời điểm đề nghị gia hạn;
d) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp phép kiểm tra, gia hạn Quyết định cho tổ chức. Trường hợp từ chối gia hạn, cơ quan có thẩm quyền cấp phép trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;
đ) Không gia hạn nghiên cứu đối với các trường hợp thay đổi mục đích nghiên cứu, loại chất, hàm lượng, khối lượng, biện pháp đảm bảo an toàn và điều kiện bảo quản chất ma túy, tiền chất; kế hoạch, biện pháp xử lý tồn dư chất ma túy, tiền chất.
6. Quyết định cấp phép nghiên cứu bị thu hồi trong những trường hợp sau đây:
a) Tổ chức không thực hiện đúng các nội dung được cấp phép;
b) Tổ chức tự chấm dứt hoạt động nghiên cứu và có văn bản đề nghị thu hồi gửi cơ quan cấp phép;
c) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương bị thu hồi hoặc tổ chức giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật;
d) Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh, gia hạn có thông tin gian dối hoặc có giấy tờ giả mạo;
đ) Quyết định cấp phép được cấp không đúng thẩm quyền, đối tượng hoặc có nội dung trái quy định của pháp luật;
e) Mua, bán, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, sửa chữa Quyết định cấp phép;
g) Vi phạm các quy định về phòng, chống ma túy, quản lý hóa chất, bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật khác có liên quan.
7. Thủ tục thu hồi Quyết định cấp phép nghiên cứu
a) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị thu hồi Quyết định nghiên cứu hoặc kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra, kiểm tra trong đó có kiến nghị thu hồi Quyết định nghiên cứu; hoặc phát hiện các trường hợp vi phạm quy định tại khoản 6 Điều này, Bộ Công an xem xét, thu hồi Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định thu hồi, tổ chức bị thu hồi phải nộp lại bản gốc Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất đến Bộ Công an;
c) Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, Quyết định thu hồi được gửi đến tổ chức bị thu hồi Quyết định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Công an cấp tỉnh nơi tổ chức thực hiện nghiên cứu, bảo quản chất ma túy để phối hợp theo dõi, giám sát;
d) Khi nhận được Quyết định thu hồi Quyết định cấp phép nghiên cứu, tổ chức phải dừng ngay hoạt động nghiên cứu; trường hợp gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác hoặc gây thiệt hại đến môi trường thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
8. Hoạt động nghiên cứu chất ma túy, tiền chất theo quy định của Điều này phải được theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ khi có Quyết định cấp phép đến khi hoàn thành hoạt động nghiên cứu.
a) Tổ chức được cấp phép nghiên cứu phải thực hiện đúng nội dung Quyết định cấp phép và phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền cấp phép về kết quả nghiên cứu, khối lượng chất ma túy, tiền chất đã sản xuất và sử dụng; tồn dư chất ma túy, tiền chất và biện pháp, kết quả xử lý ngay khi hoàn thành quá trình nghiên cứu;
b) Trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày cấp giấy phép, cơ quan có thẩm quyền cấp phép có trách nhiệm gửi Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất đến Công an cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tiến hành hoạt động nghiên cứu để các đơn vị trên phối hợp theo dõi, kiểm tra, giám sát;
c) Trường hợp phát hiện vi phạm, đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo ngay cho lực lượng Công an nơi phát hiện vi phạm và cơ quan có thẩm quyền cấp phép để phối hợp ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật.
Pháp luật quy định trình tự thủ tục cấp phép nghiên cứu chất ma túy và tiền chất do Bộ Công an trực tiếp thẩm định với thời hạn hiệu lực tối đa hai năm. Toàn bộ hoạt động này bị giám sát cực kỳ nghiêm ngặt từ khâu nộp hồ sơ xin phép cho đến bước báo cáo nghiệm thu kết quả và xử lý hóa chất tồn dư. Cơ chế kiểm soát chặt chẽ này vừa tạo hành lang pháp lý cho hoạt động nghiên cứu khoa học chính đáng vừa ngăn chặn triệt để nguy cơ rò rỉ chất cấm ra ngoài xã hội.
