Giám định tư pháp là lĩnh vực có yêu cầu, đòi hỏi cao về mặt chuyên môn trong thực hiện nhiệm vụ cũng như việc chịu trách nhiệm với kết quả thực hiện giám định nhằm phục vụ cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Chính vì vây mà nguồn nhân lực trong lĩnh vực giám định tư pháp có thể nói là rất khó khăn. Thêm vào đó, chế độ, chính sách đối với người thực hiện giám định tư pháp chưa thật sự tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ nên những người có thể đáp ứng được tiêu chuẩn làm giám định tư pháp lại càng không “mặn mà”. Trước thực trạng đó, để xây dựng, phát triển đội ngũ giám định tư pháp, Thừa Thiên Huế là một trong những địa phương đi đầu trong việc ban hành chế độ, chính sách thu hút chuyên gia; tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp.
Luật Giám định tư pháp năm 2012 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. Ngày 10 tháng 6 năm 2020, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 (sau đây gọi chung là Luật Giám định tư pháp). Luật Giám định tư pháp quy định rất rõ ràng về cá nhân, tổ chức giám định tư pháp. Tuy nhiên, qua gần 10 năm thi hành Luật Giám định tư pháp, không ít cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa hiểu đúng, đầy đủ, thậm chí nhầm lẫn các quy định về người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp và cả trách nhiệm thực hiện giám định của cá nhân, tổ chức chuyên môn có đủ tiêu chuẩn, điều kiện nhưng không thuộc danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc khi có trưng cầu của người trưng cầu giám định trong trường hợp đặc biệt.
Hệ thống pháp luật ra đời và gắn liền với nhà nước để thực hiện một trong những chức năng quan trọng là điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước; phát triển kinh tế - xã hội. Pháp luật phòng, chống tham nhũng của nước ta được hình thành cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó đến nay, pháp luật phòng, chống tham nhũng đã có những bước phát triển, hoàn thiện, ghi dấu vai trò, nhiệm vụ của mình trong từng giai đoạn đi lên của đất nước cũng như phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu trong công tác phòng, chống tham nhũng trên thế giới.
Trong bối cảnh tăng cường xã hội hóa dịch vụ công chứng, vai trò của các Phòng Công chứng được xác định là “giữ vai trò chủ đạo, then chốt trong thị trường dịch vụ công chứng phục vụ nhiệm vụ chính trị, công tác quản lý nhà nước” (điểm b khoản 2 mục I Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng). Vậy tiêu chí nào để xác định vài trò “chủ đạo, then chốt” của Phòng Công chứng trong thị trường dịch vụ công chứng?
Trong quá trình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, không tránh khỏi biến động về thành viên hợp danh. Và khi có sự thay đổi về công chứng viên (hợp danh và hợp đồng) thì phải được Sở Tư pháp ghi nhận nội dung thay đổi. Tuy nhiên, nhiều trường hợp chưa hiểu đầy đủ về việc việc xác định các thời điểm liên quan, như: Thời điểm hợp danh của thành viên hợp danh mới và thời điểm được hành nghề công chứng của thành viên hợp danh mới; thời điểm chấm dứt tư cách thành viên hợp danh và thời điểm xóa đăng ký hành nghề và thu hồi Thẻ công chứng viên. Bài viết sau đây phân tích về các thời điểm trên để làm rõ thời điểm và trách nhiệm của công chứng viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg), được áp dụng từ năm 2022 và thay thế Quyết định số 619/QĐ-TTg. Nhìn chung, Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg được xây dựng tinh gọn, dễ áp dụng; cơ bản khắc phục bất cập, hạn chế của Quyết định số 619/QĐ-TTg qua việc điều chỉnh các tiêu chí, chỉ tiêu phù hợp với thực tiễn; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện công tác đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật trong tình hình mới.
Lập vi bằng là một trong những nhiệm vụ của Thừa phát lại được quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại. Việc lập vi bằng ngày càng phổ biến nhưng không nhiều người hiểu rõ bản chất của vi bằng và còn nhầm lẫn về giá trị của vi bằng với văn bản được công chứng, chứng thực.
Thực tiễn thời gian qua, có trường hợp chủ thể tặng cho quyền sử dụng đất được thừa kế trong quyền sử dụng đất thuộc là tài sản chung hợp nhất với các đồng thừa kế khác. Từ đây có những quan điểm về việc có ghi vào hợp đồng tặng cho phần diện tích quyền sử dụng đất tặng cho trong diện tích đất là tài sản chung hợp nhất hay không?
Khi cá nhân được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng từ chối nhận di sản theo di chúc thì phần di sản có liên quan đến người này phải xử lý như thế nào nếu người từ chối nhận di sản cũng chính là một trong những người được thừa kế theo pháp luật?
