Để triển khai, thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quy định về xây dựng, ban hành văn bản QPPL, hoàn thiện thể chế ở địa phương. Trong năm 2018, Hội đồng nhân dân đã ban hành 23 Nghị quyết QPPL, Uỷ ban nhân dân đã ban hành 75 Quyết định QPPL.
Luật Thi hành án hình sự năm 2010 được Quốc hội (khóa XII) thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Qua hơn 8 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010, công tác thi hành án hình sự được tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong giáo dục, cải tạo người phạm tội. Bên cạnh kết quả đạt được, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 bộc lộ những bất cập, hạn chế, một số quy định không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới và nhiều bộ luật, luật có nội dung liên quan đến thi hành án hình sự nên các quy định của Luật Thi hành án hình sự hiện hành không bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy định của Hiến pháp và pháp luật có liên quan. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án hình sự năm 2010 là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính cũng như bảo đảm tốt hơn quyền tự do, dân chủ của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Pháp luật về giao dịch bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động tín dụng nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói riêng; góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, hạn chế các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Ở Việt Nam trong những năm qua, pháp luật về giao dịch bảo đảm đã từng bước được hoàn thiện, đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội cũng như những đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế - quốc tế. Hãy cùng điểm qua một số mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm:
Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về TGPL (được sửa đổi, bổ sung một phần theo Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày 31/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Sau 10 năm triển khai các Thông tư này đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, đặc biệt trong bối cảnh triển khai Luật TGPL năm 2017 nhiều nội dung của Thông tư số 05/2008/TT-BTP không còn phù hợp như hướng dẫn về hình thức TGPL khác, hồ sơ TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL..... Bên cạnh đó, để triển khai các hoạt động nghiệp vụ theo Luật TGPL năm 2017 cần có sự thay đổi cách thức triển khai, đòi hỏi cần có sự hướng dẫn (như vụ việc TGPL hoàn thành, thụ lý vụ việc TGPL, hồ sơ vụ việc đối với từng hình thức TGPL.... Do vậy, việc xây dựng, ban hành Thông tư hướng dẫn các vấn đề nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý là cần thiết và phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 40 Luật TGPL nhằm tạo điều kiện cho tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL và người được TGPL thuận lợi trong quá trình thực hiện các hoạt động TGPL, hướng đến bảo đảm chất lượng dịch vụ cung cấp cho người được TGPL, góp phần triển khai có hiệu quả, chất lượng Luật TGPL năm 2017. Sau đây là một số ý kiến góp ý vào dự thảo:
Qua 12 năm thi hành, Luật Giáo dục đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong hệ thống giáo dục quốc dân; đã góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, Luật đã nảy sinh một số điểm chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, liên quan đến hệ thống giáo dục quốc dân; quản lý Nhà nước về giáo dục; đào tạo, bồi dưỡng đối với nhà giáo; chính sách đối với học sinh, sinh viên sư phạm... Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, đồng thời tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn để phát triển và hội nhập. Sau đây là một số ý kiến đóng góp:
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014. Qua hơn 4 năm tổ chức thi hành Luật, công tác quản lý đất đai đã đạt được những hiệu quả nhất định như: Kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật đất đai giữa Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013, không để ách tắc gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân. Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; tập trung xây dựng hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai. Việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai đã hạn chế được giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tư không có năng lực, tránh được lãng phí trong việc sử dụng đất. Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất “tùy tiện”, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất…
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) quy định đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, ngoài việc áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau (Điều 28):
Thụ động trong hoạt động
Hiện nay, số lượng báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Báo cáo viên công tác trong nhiều ngành, “phủ sóng” đầy đủ các lĩnh vực. Thêm vào đó, đội ngũ các luật gia, luật sư hoạt động năng động, luôn sẵng sàng tham gia vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
