Trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn pháp luật để áp dụng theo quy định. Trường hợp áp dụng theo pháp luật nước ngoài thì các hợp đồng, giao dịch phải bảo đảm những điều kiện mới được thực hiện tại Việt Nam.
Khi đang ở nước ngoài, người có nhu cầu công chứng, chứng thực văn bản, giấy tờ theo pháp luật Việt Nam có thể liên hệ với cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện.
Các trường hợp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất được quy định tại Điều 54 Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, các đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể.
Hộ gia đình được xác định là người sử dụng đất từ Luật Đất đai năm 1993, tiếp đến là Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 [1] (trước đó, Luật Đất đai đầu tiên của nước ta là Luật năm 1987 chưa đề cập cụ thể đến đối tượng sử dụng đất). Tuy nhiên, để giải thích thế nào là hộ gia đình thì đến Luật Đất đai năm 2013 mới có quy định. Từ các quy định liên quan, vấn đề mang tính thực tiễn qua áp dụng pháp luật vẫn chưa được thống nhất là trường hợp thành viên hộ gia đình được xác định chỉ có người chồng/vợ thì người vợ/chồng (không có tên trong hộ gia đình) có quyền sử dụng đất chung trong hộ gia đình không?
[1] Điều 1 Luật Đất đai năm 1993 nêu: “...Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trong Luật này gọi chung là người sử dụng đất”.
Khoản 2 Điều 9 Luật Đất đai năm 2003: “Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất là người sử đụng đất”.
