Đến 5 giờ chiều, như đã hẹn, ông A đến nhà ông T. Ông T cho máy nổ, chạy thử một vòng trên khu đất cạnh nhà và giới thiệu rằng máy vẫn hoạt động tốt, chỉ cần thay dầu định kỳ. Sau khi thương lượng, hai bên viết giấy mua bán, ghi rõ giá 38 triệu đồng; ông A trả trước 30 triệu đồng, 8 triệu đồng còn lại sẽ trả sau 15 ngày. Ông T cam kết bảo hành động cơ và hộp số trong một tháng.
Hai ông viết Giấy mua bán và tại Giấy mua bán không mô tả tình trạng từng bộ phận, không ghi cách xử lý khi máy hỏng và cũng không xác định bên nào chịu chi phí vận chuyển, kiểm tra kỹ thuật. Vì tin nhau, ông A nhận máy ngay trong ngày mà không mời thợ cơ khí kiểm tra.
Ông A mua được máy phục vụ cho công việc, trong lòng rất phấn khởi và vui mừng. Ông sử dụng máy trong ba ngày đầu, máy hoạt động bình thường. Sang ngày thứ tư, khi đang làm đất, hộp số phát ra tiếng kêu lớn rồi máy không thể chuyển động. Ông A gọi ông T đến xem và yêu cầu thực hiện lời hứa bảo hành. Ông T cho rằng máy hỏng do ông A vận hành quá tải, cày trên ruộng nhiều đá nên từ chối chịu toàn bộ chi phí.
Trong khi đó, để kịp mùa vụ, ông A đưa máy đến một cơ sở sửa chữa. Người thợ xác định cụm bánh răng hộp số đã mòn từ trước, nhưng việc tiếp tục vận hành khi máy phát ra tiếng kêu cũng làm hư hỏng nặng hơn. Tổng chi phí thay linh kiện và sửa chữa là 9 triệu đồng. Ông A thanh toán khoản này và tuyên bố không trả 8 triệu đồng còn lại. Ông còn yêu cầu ông T hoàn lại thêm 1 triệu đồng.
Sau khi ông A nói sự việc này, ông T không đồng ý. Ông nhiều lần đến nhà đòi tiền, còn ông A cho rằng mình bị bán máy cũ, hư hỏng. Lời qua tiếng lại khiến quan hệ hai gia đình căng thẳng. Sự việc được phản ánh đến tổ hòa giải của thôn.
Một ngày nọ, bà B là hòa giải viên của thôn, bà B đã gặp ông T và A để thực hiện hòa giải, và giải thích rằng việc hòa giải phải dựa trên sự tự nguyện, khách quan, công bằng; bà cũng không có quyền phán quyết ai thắng, ai thua. Bà đề nghị hai bên cung cấp giấy mua bán, biên nhận tiền, hóa đơn sửa chữa, hình ảnh chiếc máy và thông tin của người thợ đã kiểm tra.
Ông A khẳng định mình mua máy để sử dụng ngay trong mùa vụ. Nếu biết hộp số đã mòn, ông sẽ không mua với giá 38 triệu đồng. Điều khiến ông bức xúc là ông T đã ghi rõ bảo hành một tháng nhưng khi máy hỏng lại từ chối trách nhiệm.
Bà B giải thích thêm cho hai ông được hiểu rõ quy định của pháp luật về hợp đồng, Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”. Và theo quy định tại Điều 445 Bộ luật Dân sự năm 2026 quy định: “Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua mà bên mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo ngay cho bên bán khi phát hiện ra khuyết tật và có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác, giảm giá và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Điều 446 Bộ luật Dân sự năm 2026 quy định nghĩa vụ bảo hành: “Bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Thời hạn bảo hành được tính kể từ thời điểm bên mua có nghĩa vụ phải nhận vật”.
Ông A cũng thừa nhận máy đã kêu khoảng nửa giờ nhưng ông vẫn cố làm nốt thửa ruộng. Sau đó máy mới dừng hẳn. Ông cũng tự đưa máy đi sửa vì cần gấp để làm cho xong thửa đất kịp thời và chưa thống nhất trước với ông T về cơ sở sửa chữa và mức chi phí.
Ông T trình bày rằng trước khi bán, máy vẫn sử dụng được và ông không biết bánh răng đã mòn đến mức nào. Tuy nhiên, ông thừa nhận đã cam kết bảo hành hộp số trong một tháng. Bên cạnh đó, ông T cho rằng nếu ông A dừng máy ngay khi có tiếng kêu thì chi phí sửa chữa có thể thấp hơn.
Bà B giải thích thêm cho ông T hiểu rõ về việc cam kết bảo hành đã được ghi trong giấy mua bán. Ông T không thể từ chối toàn bộ trách nhiệm chỉ vì cho rằng người mua sử dụng chưa đúng, trong khi chưa xác định phần hư hỏng nào có trước và phần nào phát sinh sau.
Theo quy định tại Điều 363 Bộ luật Dân sự năm 2026: “Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”.
“Điều 449. Bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành
1. Ngoài việc yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo hành, bên mua có quyền yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do khuyết tật về kỹ thuật của vật gây ra trong thời hạn bảo hành.
2. Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua. Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”.
Sau khi nghe phân tích, ông T đồng ý rằng mình có trách nhiệm đối với phần hao mòn, khuyết tật đã tồn tại trước khi giao máy.
Bà B tiếp tục giải thích thêm cho hai ông được hiểu, theo quy định về hợp đồng mua bán tài sản, bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản, còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền. Chất lượng tài sản trước hết được xác định theo thỏa thuận. Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng, đặc tính của vật mua bán và thực hiện nghĩa vụ bảo hành nếu các bên đã thỏa thuận.
Khi phát hiện khuyết tật làm giảm giá trị sử dụng, bên mua phải thông báo kịp thời và có thể yêu cầu sửa chữa, đổi vật, giảm giá hoặc bồi thường theo điều kiện pháp luật và thỏa thuận. Tuy nhiên, bên bán không phải chịu trách nhiệm đối với phần khuyết tật do lỗi của bên mua gây ra. Bên mua cũng không thể tự động giữ lại toàn bộ tiền nếu chưa xác định rõ phạm vi trách nhiệm của mỗi bên. Bà cũng đã hỏi rõ người thợ sửa máy, bác thợ đã nói rằng: “Bánh răng và ổ bi đã mòn trong thời gian dài, không thể chỉ hỏng sau vài ngày sử dụng. Nhưng nếu dừng máy ngay khi có tiếng kêu thì có thể chỉ phải thay một số chi tiết, chi phí ước khoảng 6 triệu đồng. Việc cố vận hành làm vỡ thêm bánh răng, tăng chi phí khoảng 3 triệu đồng.”
Sau khi nghe bà B giải thích cặn kẽ, phân tích nhiều điều, hai bên đã nhìn thấy phần trách nhiệm của mình. Ông T phải chịu trách nhiệm chính đối với khuyết tật có trước và cam kết bảo hành. Ông A cũng có lỗi khi tiếp tục vận hành dù đã phát hiện dấu hiệu bất thường và tự sửa chữa mà không trao đổi đầy đủ với bên bán.
Sau nhiều lượt trao đổi, ông T đồng ý chịu 6 triệu đồng chi phí sửa chữa tương ứng với phần khuyết tật đã tồn tại trước khi bán. Khoản này được khấu trừ vào 8 triệu đồng tiền mua máy còn lại. Ông A chịu 3 triệu đồng do tiếp tục sử dụng máy khi đã có dấu hiệu bất thường và đồng ý thanh toán 2 triệu đồng còn thiếu cho ông T và ông T cam kết sẽ tiếp tục bảo hành động cơ và hộp số cho đến hết thời hạn một tháng tính từ ngày giao máy. Nếu phát sinh hư hỏng thuộc phạm vi bảo hành, ông phải phối hợp kiểm tra trước khi sửa chữa. Ông A có trách nhiệm sử dụng máy đúng hướng dẫn, dừng máy và báo ngay khi phát hiện bất thường.
Câu chuyện đã khép lại và không bên nào bị coi là người thua cuộc. Tranh chấp được giải quyết trên cơ sở hợp đồng, chứng cứ và mức độ lỗi; quan hệ xóm giềng được giữ gìn. Quan trọng hơn, giúp người dân trong thôn hiểu rằng thỏa thuận càng cụ thể thì khả năng phát sinh tranh chấp càng thấp. Hai ông lại tiếp tục cùng nhau uống trà, đánh cờ tướng và nói cười vui vẻ, để tình cảm thân càng thân hơn, thấy giá trị câu nói của ông cha ta “bán bà con xa, mua láng giềng gần”./.
